Dạy trẻ con thế nào để trở thành người vững vàng, không bị ảnh hưởng bởi đánh giá bên ngoài?

17626587_419342375093961_8594492979431863599_n

Đây là Daniel Radcliffe. Cậu ấy bằng tuổi mình. Năm 10 tuổi, được chọn đóng vai Harry Potter nhờ vào ngoại hình giống những miêu tả về cậu bé phù thủy, nhờ thế trở thành thiếu niên Anh không thuộc hoàng gia có tài sản lớn nhất. Được làm việc cậu yêu thích là đóng phim, và giàu có đủ để cả đời không bao giờ phải lo nghĩ đến tiền bạc, lại nổi tiếng khắp thế giới, vậy Daniel phải là một chàng trai hạnh phúc? Ngược lại, trong suốt nhiều năm trước, cậu nghiện rượu vì cái bóng của vai diễn trong chuỗi phim Harry Potter quá lớn. Sức ép phải “luôn là cái gì đó” khiến Daniel bị khủng hoảng, và tìm đến rượu để quên đi sự bế tắc của mình!

Tưởng đây chỉ là vấn đề của các ngôi sao thôi ư? Đợt làm tình nguyện viên cho tổ chức hỗ trợ phụ nữ bị buôn bán, mình được xem và nghe những câu chuyện khá ám ảnh. Những kẻ buôn bán người thường nhắm vào những thiếu niên thiếu tự tin, và cảm thấy bất ổn trong lòng (insecure). Chúng sẽ chìa bàn tay ra, có thể là người bạn, có thể làm người yêu, và khi thiếu niên đó cảm thấy người này là người duy nhất công nhận mình, hiểu mình, trân trọng mình, thì sẽ rất sẵn lòng bỏ nhà đi, hoặc làm những việc mà bọn kia sai bảo.

Mình vẫn hay nghĩ, làm thế nào để có thể nuôi dạy một đứa trẻ để nó lớn lên thành một người vững vàng, dù hoàn cảnh thay đổi thế nào cũng không xao động? Quan trọng là, cần có những yếu tố gì để một con người không bị tác động bởi những sự đánh giá từ bên ngoài?

Có những điều cơ bản thế này.

  1. Cha mẹ không bao giờ được so sánh con với người khác

Điều này khó, vì trong hệ thống giáo dục của chúng ta, “thi đua” lúc nào cũng là câu cửa miệng. Mỗi khi trả bài kiểm tra, cô sẽ gọi điểm, tức là từng học sinh phải đọc to điểm của mình cho cả lớp nghe thấy. Cuối tháng thì bảng xếp thứ cả lớp được gửi về từng nhà. Trẻ nhỏ lúc nào cũng bị nhắc cho nhớ so với bạn này, bạn kia, mình đang đứng ở đâu.

Việc so sánh không tạo nên động lực, nó chỉ gây ra cảm giác bất an và ghen tị. Cha mẹ nghĩ con nên biết mình kém để cố gắng ư, thế thì chỉ cần so sánh con với chính bản thân con của tháng trước, năm trước, chứ không phải với bạn Tý bạn Tèo nào cả. Con nhà người ta không phải là chuẩn mực, dù Facebook có suốt ngày đập vào mắt những em bé 3 tuổi biết đọc 7 tuổi biết làm thơ bằng tiếng Anh để bố mẹ nhòm ngó con nhà người ta mà nghiến răng nghĩ đến con mình. Có ai thích suốt ngày đi làm bị sếp nói “Anh không bằng đồng nghiệp của anh” không?

So sánh với người khác là một thói quen xấu, vì vượt được người này rồi, sẽ có người khác giỏi hơn. Cuộc đời của con sẽ là một chuỗi ganh đua không bao giờ chấm dứt, và cho dù có tốt thế nào, cũng vẫn cảm thấy mình thất bại.

  1. Tập trung vào nỗ lực, thay vì bản tính

Có một thí nghiệm cho hai nhóm học sinh làm đề thi khó. Một nhóm sau khi làm xong, được khen là “các con đã cố gắng rất nhiều”, còn nhóm kia được khen “các con thật giỏi”. Sau đó, hai nhóm được cho làm đề khác. Nhóm thứ nhất có kết quả vượt hẳn nhóm thứ hai. Lời giải thích được đưa ra là, khi cố gắng được khen ngợi, trẻ sẽ càng muốn cố gắng hơn, và không ngại sai, không ngại khó. Còn nhóm thứ hai, vì chỉ tập trung vào một thứ không thay đổi được, là sự thông minh, thì các em ngại bị sai, ngại thử thách, vì sợ mình sẽ không được như lần trước.

Người lớn đừng khen là “con thật giỏi”, “con thật đẹp trai/xinh gái”, “con thật thông minh”, vì đó là những thứ con không kiểm soát được, mà phải nhờ vào sự đánh giá từ bên ngoài. Hãy khen “con biết giúp mẹ như vậy là tốt”, “con bảo vệ bạn”, “con chạy chậm nhưng con không bỏ cuộc”, vì đó là những điều con tự chủ được. “Con đã cố gắng rất nhiều, mẹ tự hào về con” thì ngụ ý rằng “lần sau con cố gắng tiếp nhé”, khác với “con thật giỏi, mấy đứa kia kém xa”, ngụ ý rằng “nếu có lúc bạn vượt lên thì tức là con không giỏi nữa.”

Đặt giá trị của con vào sự đánh giá chủ quan từ bên ngoài, sẽ khiến cho con luôn bị phụ thuộc vào những sự đánh giá đó.

  1. Cha mẹ phải bỏ qua những hệ thống đánh giá hàng ngày

Có nhiều người đánh đồng điểm số cao là con ngoan, con biết thương mẹ, điểm thấp là con hư, con không biết nghĩ cho bố mẹ vất vả. Điểm số thì cũng là do cô giáo cho, cô giáo có hôm vui vẻ, có hôm cáu gắt. Cô cũng có những điều phiến diện, tại sao lại dựa vào đấy để định giá trị của con?

Từ trước đến nay, mỗi khi nhìn thấy một bé gái mặc đồ bó sát, đi giày cao gót, mình lại thấy gờn gợn. Gần đây mình mới lý giải được cảm giác đó. Khi bắt một đứa trẻ phải đẹp theo chuẩn mực của người lớn, thông điệp được đưa ra ở đây là, chỉ có một cách để đẹp, và con phải tuân theo cái đẹp đó thì mới được ngợi khen. Những bạn gái điệu đà trong thời đi học mà mình từng biết, thường là những bạn gái yêu sớm, lấy chồng và có con sớm. Mình thường tự hỏi, có phải vì việc xinh đẹp rất quan trọng với các bạn, mà có xinh hay không lại cần những người đàn ông xung quanh xác nhận, nên các bạn dễ đi theo con đường đấy?

Bản thân cha mẹ phải giải phóng mình khỏi những hệ thống đánh giá của xã hội xung quanh. Nếu con quan sát thấy cha mẹ suốt ngày quan tâm đến nhà hàng xóm đi xe gì, mua mấy mảnh đất, có túi da xịn không, thì con cũng sẽ lớn lên và quan tâm đến những dấu hiệu bên ngoài để đánh giá đấy. Và dĩ nhiên, nếu không có được những thứ mà người xung quanh con cho là quan trọng, con sẽ thấy bất ổn.

  1. Gỡ bỏ giới hạn

Tại sao con gái thì phải chơi đồ chơi màu hồng? Con trai chỉ được chơi súng và siêu nhân? Tại sao con trai thì không được để tóc dài, còn con gái thì không được “nghịch như giặc”? Trẻ nhỏ để ý và thấm nhuần những giới hạn của người lớn rất nhanh. Đến khoảng 3 tuổi, trẻ đã biết những vai trò giới mà xã hội xung quanh gán cho mình. Con gái thì phải nói nhỏ thôi, chơi búp bê. Con trai thì được nhảy nhót, bôi bẩn quần áo, bắn nhau bùm chíu. Con gái học cấp 1 là phải biết làm việc nhà đơn giản rồi, còn con trai thì sẽ được tặc lưỡi “nó biết cái gì đâu”.

Nếu muốn con lớn lên an nhiên và tự tại, cha mẹ đừng áp đặt giới hạn lên con. Con gái thích chơi ô tô thì có sao? Con trai thích sơn móng tay màu hồng thì cũng ảnh hưởng gì đến hòa bình thế giới? Con thích bày đồ chơi, được thôi, nhưng con phải dọn. Mình chứng kiến nhiều người cứ gào lên “Con nói bé thôi. Con không được chạy, mồ hôi ra ốm. Con không được sờ vào con mèo.” Đủ thứ mệnh lệnh và những giới hạn chẳng có gì quan trọng, mà khiến cho tất cả đều mệt mỏi. Thỉnh thoảng cha mẹ hãy cùng con vẽ linh tinh lên tường. Thỉnh thoảng con thích đi hai chiếc tất khác màu đến lớp, có sao đâu!

Càng có nhiều giới hạn, con người ta càng bớt tự do!

  1. Hãy lắng nghe con

Không ai có một nhân dạng (identity) vững vàng mà không phải vật vã với vô vàn câu hỏi. Mỗi tuổi sẽ có những câu hỏi khác nhau. Mẫu giáo thì hỏi, con thích màu gì, con thích con vật gì. Tiểu học thì hỏi, lớn lên con thích làm nghề gì. Trung học thì hỏi, con là người hướng nội hay hướng ngoại, hòa đồng hay tinh tế. Và giữa những câu hỏi đó, cha mẹ có thể là người vùi dập, bắt con phải theo một khuôn mẫu, hoặc có thể nuôi nấng cho tính cá nhân của con nở hoa.

Hồi cấp 2, mình cũng máu buôn bán, mang bánh ngọt đến lớp bán cho các bạn. Được hai ngày thì cô chủ nhiệm gọi ra mắng, nên hăm hở làm giàu tắt lịm luôn từ đó. Giờ nghĩ lại, không biết nếu lúc đó được khuyến khích, thì giờ có thành chủ doanh nghiệp trẻ hay đi sang biên giới đánh hàng Quảng Châu hay không.

Mình vẫn nhớ câu chuyện về thầy hiệu trưởng lắng nghe Totochan luyên thuyên trong 3 tiếng đồng hồ mà không tỏ vẻ buồn chán. Ở trường cũ, em bị cho là có vấn đề về tập trung, nhưng thật ra em chỉ có trí tưởng tượng quá sức phong phú, mà chẳng có ai đánh giá đúng cho đến khi em gặp thầy hiệu trưởng trong ngôi trường trên toa tàu. Totochan may mắn vì em được học trong ngôi trường cho những đứa trẻ sự tự do để làm chính mình, chứ không phải là một bà bác sĩ kê đơn cho em uống thuốc để giảm tăng động và ngồi học ngoan.

Vấn đề nằm ở sự đánh giá! Nhưng nếu không có sự đánh giá nào cả, có phải tốt hơn không?

Tác giả: Nguyễn Hồng Vân – Thạc sĩ Xã hội học

Tại sao bạn cần trí tuệ cảm xúc để thành công

Khái niệm trí tuệ cảm xúc ngay từ lần đầu xuất hiện đã trở thành liên kết còn thiếu trong một phát hiện đặc biệt: những người có chỉ số thông minh trung bình làm việc tốt hơn những người có chỉ số thông minh cao nhất trong 70% tổng số thời gian. Sự bất thường này đã là một điều bất ngờ lớn về cái mà nhiều người đã luôn luôn giả định là nguồn gốc duy nhất của sự thành công, vốn là IQ . Nhiều thập kỷ của các nghiên cứu đã chỉ ra rằng trí tuệ cảm xúc là yếu tố quan trọng tạo nên sự khác biệt cho những người làm việc xuất sắc so với các nhóm còn lại.

EIfeature

Trí tuệ cảm xúc là “một cái gì đó” vô hình trong mỗi chúng ta. Nó ảnh hưởng đến cách chúng ta quản lý các hành vi, cách chúng ta tự điều chỉnh theo các nguyên tắc xã hội, và cả cách chúng ta đưa ra các quyết định cá nhân dẫn đến kết quả tích cực. Trí tuệ cảm xúc được tạo thành từ bốn kỹ năng cốt lõi thuộc hai khả năng chính: năng lực cá nhân và năng lực xã hội.

Năng lực cá nhân bao gồm sự tự nhận thức và kỹ năng tự quản lý của bạn, trong đó tập trung nhiều hơn vào cá nhân bạn thay vì vào sự tương tác của bạn với những người khác. Năng lực cá nhân là khả năng nhận biết cảm xúc và quản lý hành vi, xu hướng của bạn.

  • Tự nhận thức là khả năng cảm nhận chính xác cảm xúc của bạn và nhận biết chúng khi chúng xảy ra .
  • Kỹ năng tự quản lý là khả năng sử dụng nhận thức về những cảm xúc của bạn để có thể linh hoạt và tích cực chỉ đạo hành vi của bạn .

Năng lực xã hội được tạo thành từ khả năng nhận thức xã hội và kỹ năng quản lý mối quan hệ của bạn; năng lực xã hội là khả năng hiểu được tâm trạng, hành vi và động cơ của người khác để đáp ứng một cách hiệu quả và nâng cao chất lượng các mối quan hệ của bạn.

  • Nhận thức xã hội là khả năng chỉ ra chính xác tình cảm cho người khác và hiểu những gì đang thực sự xảy ra .
  • Kỹ năng quản lý mối quan hệ là khả năng sử dụng nhận thức về những cảm xúc của bạn và cảm xúc của người khác để quản lý các tương tác thành công.

Trí tuệ cảm xúc, trí thông minh và tính cách là khác nhau

Trí tuệ cảm xúc là một yếu tố cơ bản của hành vi con người khác biệt so với trí tuệ của bạn. Hiện nay trong nghiên cứu không phát hiện ra bất cứ quan hệ nào giữa chỉ số IQ và trí tuệ cảm xúc; bạn chỉ đơn giản là không thể dự đoán trí tuệ cảm xúc dựa trên sự thông minh của một người nào đó. Thông minh là khả năng tìm hiểu của bạn, và nó là như nhau ở tuổi 15 và ở tuổi 50. Trí tuệ cảm xúc, mặt khác, là một tập hợp các kỹ năng linh hoạt có thể được học và phát triển thông qua thực hành. Một số người có sẵn sự thông minh về mặt cảm xúc cao hơn những người khác, nhưng bạn cũng có thể phát triển trí tuệ cảm xúc cao ngay cả khi bạn không được sinh ra với khả năng đó.

Tính cách là phần cuối cùng của câu đố. Tính cách là ” phong cách” ổn định làm nên mỗi chúng ta. Tính cách là kết quả của những sở thích được quy định bên trong, chẳng hạn như bạn nghiêng về phía hướng nội hay hướng ngoại. Tuy nhiên, giống như IQ, tính cách không thể dùng để dự đoán trí tuệ cảm xúc. Cũng giống như IQ, tính cách ổn định trong suốt cuộc đời và không thay đổi. IQ, trí tuệ cảm xúc và tính cách mỗi phần đều là một mảnh trời riêng biệt và tập hợp cả ba giúp chúng ta giải thích được cái làm nên con người.

Trí tuệ cảm xúc dự đoán hiệu suất làm việc

Trí tuệ cảm xúc ảnh hưởng đến mức nào đối với sự thành công nghề nghiệp của bạn?

Câu trả lời ngắn gọn là: Rất nhiều! Đó là một cách để tập trung năng lượng của bạn theo một hướng để tạo ra một kết quả to lớn. Trang web TalentSmart đã kiểm tra trí tuệ cảm xúc cùng với 33 kỹ năng làm việc quan trọng khác, và thấy rằng trí tuệ cảm xúc là yếu tố dự báo mạnh nhất về hiệu suất, giải thích đầy đủ cho tỷ lệ 58 % thành công trong tất cả các loại công việc.

Trí tuệ cảm xúc của bạn là nền tảng cho một loạt các kỹ năng quan trọng, nó tác động đến hầu hết tất cả mọi thứ bạn làm và nói mỗi ngày.

Trong số tất cả những người mà tác giả đã nghiên cứu tại nơi làm việc, tác giả đã phát hiện ra rằng 90% những người có hiệu suất làm việc hàng đầu cũng có trí tuệ cảm xúc cao nhất. Mặt khác, chỉ 20% những người có hiệu suất làm việc thấp nhất có trí tuệ cảm xúc cao. Bạn có thể là nhân viên đạt hiệu suất cao nhất mà không có trí tuệ cảm xúc, nhưng cơ hội là rất mỏng manh.

Đương nhiên, những người có trí tuệ cảm xúc cao làm ra số tiền trung bình trên 29.000$ mỗi năm cao hơn so với những người có trí tuệ cảm xúc thấp. Mối liên hệ giữa trí tuệ cảm xúc và thu nhập trực tiếp đến mức khi tăng một điểm trong trí tuệ cảm xúc thì sẽ tăng thêm 1.300$ trong mức lương hàng năm. Những phát hiện này đúng đối với tất cả những người làm việc ở tất cả các ngành, các cấp, trong tất cả các khu vực trên thế giới. Tác giả vẫn chưa thể tìm được một công việc nào mà trong đó hiệu suất và tiền lương không gắn liền với trí tuệ cảm xúc.

Bạn có thể làm tăng trí tuệ cảm xúc của bạn

Các thông tin liên lạc giữa tình cảm và lý trí của “bộ não”của bạn là nguồn vật chất của trí tuệ cảm xúc. Đường đi của trí tuệ cảm xúc bắt đầu trong não, ở tủys ống. Thông tin từ các giác quan của bạn nhập vào đây và phải đi qua phần phía trước não của bạn trước khi bạn có thể suy nghĩ một cách lý trí về kinh nghiệm của bạn. Tuy nhiên , đầu tiên các thông tin đó sẽ đi qua hệ viền, nơi cảm xúc được tạo ra. Vì vậy, chúng ta có phản ứng cảm xúc với các sự kiện trước khi lý trí của chúng ta có thể tham gia. Trí tuệ cảm xúc đòi hỏi phải giao tiếp hiệu quả giữa trung tâm lý trí và trung tâm cảm xúc của bộ não.

“Độ dẻo” là khái niệm các nhà thần kinh học sử dụng để mô tả khả năng thay đổi của não bộ. Khi bạn phát hiện và thực hành các kỹ năng trí tuệ cảm xúc mới, hàng tỷ tế bào thần kinh nhỏ dọc theo con đường giữa các trung tâm lý trí và tình cảm của não bộ bạn tạo nên những nhánh “tay” nhỏ (giống như một cái cây) để tiếp cận với các tế bào khác. Một tế bào có thể phát triển 15.000 kết nối với các tế bào láng giềng của nó. Phản ứng tăng trưởng dây chuyền này đảm bảo một hành vi mới dễ dàng được chuyển thành hành động trong tương lai .

Khi bạn luyện tập cho não của bạn bằng cách liên tục thực hành những hành vi trí tuệ cảm xúc mới, bộ não của bạn xây dựng các con đường cần thiết để biến chúng thành thói quen. Chẳng bao lâu , bạn bắt đầu phản ứng với môi trường xung quanh của bạn với trí tuệ cảm xúc mà không cần phải suy nghĩ về nó. Và cũng giống như bộ não của bạn củng cố việc sử dụng các hành vi mới, các kết nối hỗ trợ cho các hành vi phá hoại cũ sẽ chết đi khi bạn học cách hạn chế sử dụng chúng.


Tác giả: Travis Bradberry – Ông là đồng tác giả của sách Trí tuệ cảm xúc 2.0 và là nhà đồng sáng lập trang web đánh giá trí tuệ cảm xúc và đào tạo TalentSmart, cung cấp dịch vụ cho 75% công ty trongdanh sách 500 công ty của tạp chí Fortune.

Theo Forbes

10 cách đơn giản giúp bạn giảm stress

Tác giả Dominique Bertolucci đã chia sẻ kinh nghiệm giúp mình có một cuộc sống bình yên và hạnh phúc hơn sau nhiều năm sinh sống làm việc cùng với stress hằng ngày. Nếu bạn đang rất mệt mỏi với cuộc sống của mình, hãy thử áp dụng những bí quyết này nhé.

1. Sống trong hiện tại
Việc bạn vẫn còn muốn làm gì hay có gì không có nghĩa là bạn không thể tận hưởng cuộc sống hiện nay của mình.
Sống trong hiện tại không có nghĩa là bạn không quan tâm hay xem thường tương lai, nó chỉ đơn giản là ngay tại đây, ngay lúc này là nơi bạn dành phần lớn sự tập trung của mình.

2. Nạp năng lượng
Khi sống một cuộc sống bận rộn, bạn cần phải dành thời gian tự giải tỏa, thường xuyên.
Đừng chờ đến khi mức độ stress của bạn đã đạt đỉnh điểm, hãy dành thời gian mỗi ngày ngồi một cách thư giãn và yên tĩnh, bất kể việc bạn nghĩ mình có cần nó hay không.

3. Học cách nói không
Đừng cố gắng là mọi thứ đối với tất cả mọi người. Bạn có thể đôi lúc nói “Không”. Và thực tế là bạn hoàn toàn có thể nói “không” bất cứ khi nào bạn muốn.
Khi ai đó yêu cầu bạn làm gì đó, hãy ngừng câu trả lời tự động của bạn, và suy nghĩ xem đây có phải là điều bạn muốn làm, là điều bạn cần làm, hay là điều bạn phải làm? Nếu bạn không thể trả lời “phải” cho một trong những câu hỏi này, thì câu trả lời của bạn chắc chắn phải là “không”.

4. Hãy làm hết sức mình
Đừng cố gắng trở nên hoàn hảo. Không có thứ gì là hoàn hảo cả. Nó hoàn toàn nằm ở cách nhìn chủ quan của ta, điều này khiến sự hoàn hảo trở thành một mục tiêu bất khả thi.
Thay vào đó, hãy chỉ đơn giản là quyết tâm làm hết sức mình. Sau đó là thư giãn, tự tin rằng dù cho tốt nhất của bạn đôi khi chỉ là hơn trung bình một chút, thì nó vẫn luôn luôn là đã đủ tốt rồi.

5. Học cách thở
Việc lo lắng không chỉ làm kiệt sức tâm trí của bạn, nó còn gây ảnh hưởng làm suy nhược cơ thể bạn. Khi bạn thấy tâm trí của mình rối loạn, hãy ngừng một khắc và cảm nhận sự ảnh hưởng những luồng suy nghĩ quay cuồng đó đối với cơ thể mình.
Thay vì để tâm trí mình suy nghĩ mệt mỏi, hãy bắt đầu học cách thở chầm chậm và đều đặn. Hãy để sự bình yên quay trở lại tâm trí bạn và để sức mạnh đến với cơ thể bạn.

6. Hãy bỏ danh sách việc cần làm
Hãy ngừng lo lắng về tất cả mọi thứ bạn cần phải làm, đừng lo lắng về việc trì trệ những việc bạn không muốn làm hoặc chỉ trích bản thân vì những việc bạn đáng ra đã phải làm.
Thay vì làm một nô lệ cho một danh sách việc cần làm dài vô tận, hãy làm những việc có giá trị ngay bây giờ, và hãy bỏ đi hoặc giao phó cho người khác những việc còn lại.

7. Hãy nhìn vào mặt phải của vấn đề
Luôn luôn có hai mặt cho mọi vấn đề bạn trải nghiệm trong cuộc sống: mặt phải và mặt trái.
Thay vì tập trung vào phần sai, đáng thất vọng hay chán nản về một tình huống sẵn có, hãy quan sát mức độ stress của bạn giảm hẳn khi bạn tập trung vào mặt đúng của vấn đề.

8. Hãy dọn dẹp những mớ lộn xộn
Sẽ dễ dàng đạt được một tâm lý bình yên và rõ ràng khi bạn ở trong một môi trường yên bình và sạch sẽ, vì vậy đừng cố giữ những thứ bạn không muốn hay không cần.
Hãy hỏi bản thân những thứ bạn đang có trong nhà, trong tủ quần áo, hay trong phòng làm việc có phải là những thứ bạn rất cần hay không. Nếu không, hãy bán, quyên góp, hoặc cho chúng đi.

9. Có khoảng lặng
Hãy quay trở lại với khoảng thời gian trước khi thư thoại qua email, tin nhắn điện thoại trở thành một phần của cuộc sống hằng ngày. Ở thời điểm đó, nếu một người không thể liên lạc với bạn khi họ muốn, họ chỉ đơn giản là thử lại vào một lúc khác. Lúc này cũng không cần phải quá khác biệt so với thời điểm đó đâu.
Hãy tắt điện thoại. Bạn không cần phải hiện diện mãi mãi, chỉ cần tắt đủ thời gian để bạn thư giãn và tận hưởng giây phút bình yên.

10. Hãy dành thời gian cho những người bạn yêu thương
Khi bạn bước vào cuối cuộc đời, việc bạn kiếm được nhiều tiền, được thăng chức, có một căn nhà sạch sẽ hay có một thân hình hoàn hảo sẽ không còn quan trọng nữa. Điều quan trọng còn lại chính là bạn sống một cuộc sống đầy tình yêu, tiếng cười và sự vui tươi.
Đừng chờ đến khi bạn chết đi….hãy lấp đầy khoảng thời gian của bạn với ba điều quan trọng nhất này. Hãy thư giãn và tận hưởng cuộc sống của chính mình.

Theo MindBodyGreen

Con người thích những cú sốc điện hơn là dành thời gian một mình để suy nghĩ?

electric-shock

Trong thực tế, chúng ta thấy những suy nghĩ của riêng của mình rất khó chịu. Trong nghiên cứu được thực hiện tại Đại học Virginia, nhiều người đã lựa chọn các cú sốc điện cho bản thân thay vì ngồi suy tư trong tĩnh lặng.

Jonathan Schooler giáo sư tâm lý học của trường Đại học California đã nói: “Tôi rất ngạc nhiên khi mọi người lại có cảm giác tệ như vậy” Còn Santa Barbara, người không tham gia nghiên cứu cho biết: “Có vẻ như là một người bình thường thì không có khả năng tạo ra một dòng tư tưởng đủ thú vị để họ không phải quá khổ sở với chính mình.”

Nghiên cứu này khi được công bố trên tạp chí Khoa học đã thêm vào một kết quả khó hiểu trong lĩnh vực suy nghĩ. Mười một thí nghiệm độc lập khác cũng cho thấy rằng chúng ta cảm thấy những suy nghĩ của chúng ta ngu ngốc một cách đau đớn.

Đầu tiên, các nhà nghiên cứu đã cố gắng cho những người tham gia ở bất cứ nơi nào trong một phòng thí nghiệm tâm lý, trong khoảng thời gian từ 6-15 phút một mình để suy nghĩ. Họ không được phép ngủ, và họ không được phép kiểm tra điện thoại di động của họ. Nhìn chung, mọi người đánh giá thời gian nhàn rỗi này không thú vị lắm – chỉ ở mức 5 trên thang điểm từ 0 đến 9.

Các nhà nghiên cứu tự hỏi liệu có phải môi trường phòng thí nghiệm nhân tạo là vấn đề hay không. Vì vậy, họ đã cho những người người tham gia thực hiện cùng một nhiệm vụ trong sự thoải mái tại nhà riêng. Sự hưởng thụ của họ khi ở nhà thậm chí còn thấp hơn so với ở phòng thí nghiệm. Gần một phần ba số người thừa nhận họ gian lận bằng việc kiểm tra điện thoại của họ hoặc nghe nhạc.

Sau đó, các nhà nghiên cứu cho phép người tham gia hoặc được phép ngồi một mình và suy nghĩ, hoặc làm một hoạt động khác như đọc một cuốn sách hoặc sử dụng internet – mặc dù họ không được phép giao tiếp với người khác. Những người thực hiện các hoạt động khiến họ bị phân tâm khỏi những suy nghĩ riêng thì cảm thấy hạnh phúc hơn.

Timothy Wilson, giáo sư tâm lý trường Đại học Virginia, người đứng đầu nghiên cứu này đã thảo luận về các kết quả lạ cùng với người cộng sự tại Harvard của ông là giáo sư tâm lý học Daniel Gilbert, và họ bắt đầu động não để thực hiện một thí nghiệm khác. Nếu con người cảm thấy khó chịu khi ở một mình với những suy nghĩ của họ, họ có thể làm đến mức nào để có thể thoát thân?

Để trả lời câu hỏi này, họ bắt đầu bằng cách cho các tình nguyện viên tiếp xúc với các kích thích tích cực và tiêu cực, bao gồm cả hình ảnh đẹp và những cú sốc điện nhẹ. Họ hỏi những người tình nguyện họ sẽ trả tiền baonhiêu tiền để tránh những cú sốc điện nếu họ có 5$ để chi tiêu. Sau đó, các nhà nghiên cứu cho 55 người tham gia ngồi trong một căn phòng và suy nghĩ trong 15phút. Nếu họ muốn, họ cũng có thể tự mình chọn cú sốc điện cho bản thân bằng cách nhấn một nút bấm, để nhận một cảm giác choáng váng giống như một cú sốc tĩnhđiện trên mắt cá chân của họ.

Trước sự ngạc nhiên của các nhà nghiên cứu, trong số 42 người nói rằng họ sẽ trả tiền để tránh những cú sốc, hai phần ba trong số những người đàn ông đã chọn để tạo cú sốc cho mình, và một phần tư phụ nữ đã làm. Đặc biệt, có một người đã bấm nút 190 lần.

Các nhà nghiên cứu đã rất ngạc nhiên. Con người lựa chọn cảm giác khó chịu thay vì tự do suy nghĩ bất cứ điều gì họ muốn.

Mặc dù đã tìm kiếm tương đối nhiều, các nhà nghiên cứu cũng không tìm thấy một tập hợp nhỏ nào của những người cảm thấy việc tư duy một mình là hoàn toàn thoải mái. Một trong những thí nghiệm tuyển người từ 18 đến 77 tuổi từ một nhà thờ và khu chợ của nông dân. Bất kể tuổi tác, giáo dục, thu nhập, giới tính, hoặc có sử dụng điện thoại thông minh hay sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội hay không, con người về cơ bản thấy rằng việc ở một mình với bản thân không phải là rất thú vị mà là khá nhàm chán.

Điều đó đã làm sáng tỏ về các nghiên cứu về việc tự mình suy nghĩ trước đó, chẳng hạn như một nghiên cứu của Đại học Harvard vào năm 2010 cho thấy con người không hài lòng khi sự chú ý của họ đi lang thang. Có vẻ khá hợp lý để nghĩ rằng họ ít hạnh phúc vì sự phân tâm là một bất tiện.

Ông Gilbert – một đồng tác giả của bài báo, đã viết trong một e-mail là: “Chúng ta đang cố gắng để hoàn thành tờ khai thuế, nhưng tâm trí của chúng ta cứ liên tục nghĩ đến kỳ nghỉ sắp tới, và kết quả là, chúng ta đã dành toàn bộ những ngày cuối tuần để đọc lại bản kê khai 1040. Nếu đó là sự thật, thì việc để tâm trí đi lang thang đúng là một sự phiền toái khi chúng ta đang cố gắng để hoàn thành một việc gì đó, nhưng nó đúng ra phải là một niềm vui khi chúng ta không có gì khác để làm.”

Tuy nhiên, các nghiên cứu mới cho thấy sự thật lại hoàn toàn ngược lại. Vì vậy, có phải là chúng ta chỉ đùa thôi khi nói rằng chúng ta thích dành thời gian ở một mình với những suy nghĩ của mình hay không?

Tác giả Wilson muốn nghiên cứu hiện tượng này sâu hơn nữa; ông tự hỏi liệu những người thường xuyên ngồi thiền có đánh giá các kinh nghiệm theo một cách khác hay không. Tác giả Schooler cho biết nghiên cứu này cho thấy rằng cần có những biện pháp để giúp mọi người có thể thư giãn hơn khi ở một mình.

Nhưng có lẽ cũng có một thông điệp lớn hơn, về việc thường xuyên dùng các thiết bị điện tử thu hút sự chú ý tới mức nó đã gần như trở thành một chiếc tay điện tử mới của con người. Có lẽ vấn đề không phải là ở chiếc điện thoại thông minh của chúng ta; vấn đề là ở bản chất con người. Chúng ta đang ở trong một mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau với công nghệ.

Tác giả Wilson cho biết: “Tôi nghĩ rằng đây có thể là lý do tại sao, đối với nhiều người trong số chúng ta, các hoạt động bên ngoài rất hấp dẫn, ngay cả ở cấp độ chỉ là sử dụng chiếc điện thoại di động phổ biến mà rất nhiều người trong chúng ta luôn giữ bên mình. Tâm trí con người rất dễ rơi vào tình trạng muốn gắn kết với thế giới, nó sẽ chiếm lấy bất kỳ cơ hội nào để làm như vậy.”

Theo The Boston Globe

Cha mẹ “chối từ” về rối loạn lo âu và trầm cảm ở con tuổi vị thành niên

 

Một nghiên cứu mới được Yahoo Parenting và bệnh viện Silver Hill (một bệnh viện phi lợi nhuận điều trị các rối loạn nghiện và tâm thần) thực hiện tại Mỹ cho thấy rằng cha mẹ thường gặp khó khăn trong việc giải quyết những rối loạn lo âu và trầm cảm của trẻ vị thành niên. Bác sĩ Aaron Krasner tại bệnh viện Silver Hill cho biết: “Tôi cảm thấy việc chỉ khi mọi thứ rối tung lên thì cha mẹ và con gái mới quan tâm đến việc nói về những vấn đề này cũng có thể xảy ra. Vì theo một cách nào đó thì cha mẹ không muốn biết và sẽ muốn làm mọi thứ để tránh việc phải công nhận rằng con cái của họ thật sự có vấn đề.”

Gần 65% trong số hơn 3100 cha mẹ lựa chọn lo lắng việc việc con cái của họ đang chịu các rối loạn về lo âu và trầm cảm. Và gần một nửa báo cáo rằng đứa con đang ở tuổi vị thành niên của họ đã giấu kín việc chúng cảm thấy trầm cảm, lo âu hoặc cảm thấy quá sức chịu đựng. Mặc dù con số này rất lớn, nhưng thực tế lại có một sự bất hợp lý: Tại Mỹ, 18% trẻ vị thành niên được chính thức chẩn đoán mắc các rối loạn lo âu, trầm cảm hoặc tăng động kém chú ý. Trong số đó, chỉ 9% cha mẹ thừa nhận việc con của mình uống thuốc rối loạn lo âu, trầm cảm hay rối loạn tăng động giảm chú ý.

Có vẻ như việc tính toán nhầm lẫn về hành vi và cảm xúc của trẻ vị thành niên là một vấn đề quá phổ biến. Mặc dù sự thật rằng có gần hơn một phần tư cha mẹ báo cáo rằng con mình “rất hạnh phúc” và 59% cha mẹ khác báo cáo rằng con mình “khá hạnh phúc”, nhưng sự thật này khác xa so với một khải sát năm 2013 của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC) tiết lộ 30% trẻ vị thành niên họ đã khảo sát cho biết đã từng cảm thấy buồn hoặc tuyệt vọng gần như mỗi ngày trong thời gian nhiều tuần liên tiếp – và 17% đã từng nghĩ đến việc tự tử.

Krasner nói: “Có một sự bất hợp lý lớn giữa nhận thức của cha mẹ và báo cáo của chính các trẻ vị thành niên. Điều này thật khó tin.” Ông tiếp tục rằng ngoài ra, còn có định kiến về bệnh tâm thần dẫn đến việc hình thành một hàng rào cản trở sự quan tâm chăm sóc thích hợp. Ông cho biết khác với những trẻ được nhập viện với một chiếc chân gãy, các trẻ nhập viện để điều trị các bệnh lý về tâm thần không được ai gửi tặng cho hoa hay kẹo và cha mẹ chúng cảm thấy rằng họ cần giấu việc con mình đang được chữa trị y khoa.

Nhưng điều quan trọng cần chú ý là nghĩ về các bệnh lý tâm thần như một khiếm khuyết về tính cách là một ý tưởng hoàn toàn vô nghĩa. “Chúng là những vấn đề về thần kinh có phương pháp chữa trị. Điều cha mẹ cần phải làm là thúc đẩy nhẹ nhàng theo hướng trò chuyện về những vấn đề này và cho con của họ nhập viện.” Krasner cũng nói thêm trong thời đại của mạng xã hội như ngày nay, khi thường xuyên làm việc với các trẻ vị thành niên có vấn đề về sức khỏe tâm thần và các rối loạn lạm dụng chất thì ông cảm thấy kết quả khảo sát rất rõ ràng này là rất đáng báo động, và nó khẳng định sự tách biệt về thông tin và mạng xã hội giữa cha mẹ và con cái tuổi vị thành niên.

Gần hai phần ba cha mẹ trong nghiên cứu đã nói rằng con họ dùng Snapchat (một ứng dụng nhắn tin miễn phí) hoặc những ứng dụng nhắn tin tương tự, nhưng chưa đến một nửa cha mẹ báo cáo rằng họ biết mật khẩu truy cập điện thoại của con họ. Và kết quả là cha mẹ gần như “mất kết nối” với cách thức mà công nghệ ảnh hưởng lên đời sống xã hội của con cái họ và họ không giám sát con mình.

20% các cha mẹ nghĩ rằng công nghệ đã ngăn cản con cái họ hình thành những mối quan hệ thân thiết, và 15% cha mẹ khác thừa nhận rằng họ “không chắc” về điều này. Krasner nói: “Tôi không nghĩ cha mẹ nhận biết được rằng sự tương tác xã hội không còn chỉ là sự tương tác người với người trực tiếp nữa. Mạng xã hội có nghĩa là bạn luôn trong một trạng thái liên kết với người khác. Và khi bạn vẫn còn trẻ và dễ dàng bị tổn thương thì điều đó có nghĩa là những liên kết rất to lớn.”

Cha mẹ xem sự trao đổi trên mạng xã hội như Facebook như một trò giải trí, đó là nơi đăng hình ảnh và tìm hiểu những gì đang xảy ra. Những trao đổi của trẻ vị thành niên trên Snapchat và những trang khác thì ngược lại, chún là “những mối quan hệ xã hội trực tiếp, đang diễn ra và rất có tính chi phối” Số lượng yêu thích (Likes) mà một bài đăng có được tạo nên một ảnh hưởng lớn đối với lòng tự trọng của trẻ vị thành niên. Bác sĩ nói: “Có những thế giới trong những thế giới trên mạng xã hội và mạng Internet mà cha mẹ không hề biết đến.”

Một khía cạnh khác trong cuộc sống của trẻ vị thành niên mà cha mẹ vẫn còn chưa hiểu rõ khác là gì?

Đó chính là bắt nạt. Hơn 18% cha mẹ nói rằng họ “không chắc”việc con mình có bị bắt nạt hay không, nhưng hơn 50% cha mẹ báo cáo rằng họ không nghĩ rằng con mình nổi tiếng.

Cha mẹ cũng không biết nhiều về việc con mình sử dụng những chất như rượu và chất kích thích. Hơn 3/4 cha mẹ nói rằng họ nghĩ rằng con họ “không bao giờ” dùng chất kích thích hay rượu. Nhưng trong nghiên cứu của CDC, có 66% học sinh cho biết họ đã từng uống rượu ít nhất 1 ngày trong đời sống của mình và 41% học sinh đã dùng chất kích thích 1 hoặc vài lần trong đời sống của mình.

Krasner nói: “Điều này phản ánh một sự đánh giá thấp đáng báo động đối với việc trẻ vị thành niên dùng các chất kích thích, và lại mộtlần nữa nhấn mạnh việc cha mẹ cần được giáo dục về việc giaotiếp với con của mình về việc sửdụng rượu và chất kích thích, cũngnhư tìm hiểu về những dấu hiệu rõràng của việc sử dụng những chất này.”

Mặt khác, những cha mẹ trong nghiên cứu có vẻ như chủ động lảng tránh việc trò chuyện về tình dục với con cái tuổi vị thành niên của họ. Gần 31% cha mẹ chưa từng nói chuyện với con về điều này và 71% cha mẹ nói rằng trẻ em ngày nay quá cẩu thả trong tình dục. Krasner đồng ý rằng “Trẻ vị thành niên có thể dễ thay đổi, khó hiểu, và đôi khi có vẻ khó kết nối. Nhưng đó là vì chúng cảm thấy lo lắng và nhận thức được về sự thay đổi mạnh mẽ cả bên trong và xung quanh chúng. Nhưng đó lại là điều khiến chúng rất dễ tổn thương – hơn khi nào hết, trẻ em tuổi vị thành niên cần được giúp đỡ định hướng trong thế giới xã hội đang ngày càng phức tạp hơn.

Vậy có phải lời khuyên của ông là cha mẹ của những trẻ vị thành niên quan tâm về những vấn đề này không? Thật ra chỉ cần ông nói chỉ cần hãy “ở bên cạnh chúng. Hãy tìm chúng. Và liên kết với chúng.”

Theo Yahoo Parenting

Có 3 kiểu người cầu toàn – và một trong số đó có thể có khuynh hướng rối loạn nhân cách

 

Không phải tất cả những người cầu toàn đều giống nhau. Thực tế, một nghiên cứu mới đây đã phát hiện có 3 kiểu phụ khác nhau trong số những người cầu toàn – và một trong số những kiểu phụ tính cách này thì “tối tăm” hơn hai kiểu phụ còn lại.

Nghiên cứu được đăng trên Tạp chí Đánh giá hành vi và rối loạn nhân cách (Hournal of Psychopathology and Behavioral Assessment), bao gồm 229 sinh viên đại học có dạng tính cách thuộc một trong ba kiểu phụ tính cách cầu toàn: người “tự cầu toàn” – người tự đặt những chuẩn mực cao đối với bản thân; người cầu toàn “theo xã hội” – người nghĩ rằng người khác muốn họ phải hoàn hảo; và người cầu toàn “đối vối người khác” – người có những chuẩn mực rất cao và có thể là không thể đạt được dành cho những người khác.

Các nhà nghiên cứu tại Đại học Kent đã phát hiện ra những người cầu toàn theo kiểu phụ “tự cầu toàn” có một mối quan tâm đối với người khác và thích “sự hài hước hợp tác” – có nghĩa là người kể chuyện cười không kể chuyện cười theo cách thức mà bản thân sẽ phải trả giá. Trong khi đó, những người cầu toàn “theo xã hội” thì thường có những vấn đề về lòng tự trọng và có khuynh hướng đưa ra những câu chuyện cười kháng lại chính mình.

Nhưng còn những người cầu toàn “đối với người khác” thì có một cảm giác ưu việt và tính hài hước gây hấn, có khuynh hướng khiến người khác sẽ phải trả giá. Họ cũng có nét tính cách tự đại, quỷ quyệt (dùng sự dối trá để vượt lên người khác), và chống đối xã hội (không có sự cảm thông và sử dụng những cách thức kiểm soát có thể hoặc không dẫn đến những hành vi phạm tội). Giáo sư tâm lý học Martin Antony tại Đại học Ryerson – tác giả của When Perfect Isn’t Good Enough đã nói có nhiều cách để nghĩ và nói về tính cầu toàn. Ông giải thích rằng mô hình đa chiều được dùng trong nghiên cứu được tạo ra vào những năm 1990 bởi các nhà nghiên cứu Canada, dùng ba kiểu phụ của tính cầu toàn chứ không ba loại tính cầu toàn khác hẳn nhau – có nghĩa là “con người có thể cao ở cả ba kiểu phụ của tính cầu toàn, hoặc chỉ cao ở hai hoặc một kiểu phụ mà thôi”.

Antony cũng chú ý rằng kiểu phụ “tự cầu toàn” của tính cầu toàn thật ra lại có ích, vì “nó giúp con người thành công. Nó thường không liên quan đến vấn đề tâm lý nào, chỉ trừ rối loạn ăn uống, có chứng cứ đã chứng minh được những người có rối loạn ăn uống thì cũng có tính cầu toàn tự cầu toàn tăng cao.” Tuy nhiên, kiểu tính cầu toàn “theo người khác” thì lại có thể có một vài thách thức. Ông giải thích: “Vì họ mang niềm tin rằng người khác có những tiêu chuẩn cao đối với chính họ, nên những người có kiểu tính cách này thường có liên quan đến những vấn đề về lo âu và trầm cảm.”

Và vẫn còn kiểu cầu toàn “đối với người khác” người mong đợi rất nhiều từ người khác. Antony cho biết: “Kiểu này thường không liên quan đến các vấn đề lo âu hay trầm cảm, nhưng nó có thể có liên quan đến những vấn đề như giận dữ, và cũng như trong nghiên cứu gần đây cho thấy, có mặt trái này.”

Ông cũng nói thêm: “Tuy nhiên, tất cả những điều này là mối quan hệ, vì thế sẽ có người có kiểu tính cầu toàn “đối vối người khác” cao nhưng không có mặt trái đó. Chúng ta cần cẩn thận không nên khái quát hóa. Nhưng cũng có một cách khác khi nhìn vào tính cầu toàn. Khi chúng ta nói về tính cầu toàn, chúng ta thường nói về tính cầu toàn rối loạn cưỡng chế, những người thường hay tập trung vào chi tiết, như Sheldon trong The Big Bang Theory. Những người cầu toàn như thế có thể có những thứ chỉ vừa đúng và có khuynh hướng chú ý vào những tiểu tiết. Dạng cầu toàn này thì rất khác biệt so với dạng mà các thang đo trong nghiên cứu đo lường.”

Vậy có phải là tính cầu toàn là một vấn đề về tính cách cần phải xử lý không? Antony cho biết điều này tùy thuộc vào vấn đề. “Câu hỏi đầu tiên bạn cần hỏi chính mình là ‘Nó có phải là một vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của mình không – các mối quan hệ của mình, công việc của mình, khả năng tận hưởng mọi thứ của mình?’. Bạn cũng sẽ muốn hỏi mình ‘Nó có làm cho tôi trầm cảm, lo lắng hay cảm thấy áp lực một cách vô lý không?’ Nếu câu trả lời là ‘không’ đối với tất cả những điều này, vậy thì bạn không cần phải làm gì cả.”

Nhưng đối với những ai trả lời có trong bất cứ câu hỏi nào ở trên thì theo Antony cần được tham vấn tâm lý. “Có những phương pháp trị liệu có thể giúp dạy con người tự xem lại hoàn cảnh tính cầu toàn của mình. Nó giúp người này chuyển cách suy nghĩ của họ sang cách suy nghĩ mới linh hoạt hơn, và thử thách chính bản thân họ bằng cách làm những việc khiến họ không thoải mái và lo lắng hơn, cho đến khi họ học được rằng không có điều gì tệ hại sẽ xảy ra cả.”

Ông cũng nói thêm rằng trị liệu cũng sẽ giúp phát hiện những phẩm chất tích cực và tiêu cực của một người. “Có những khía cạnh trong tính cầu toàn có ích cho con người, nhưng một số khía cạnh khác thì lại cản trở chúng ta. Vì vậy trị liệu sẽ giúp một người nhận ra rằng họ không cần phải thay đổi mọi thứ về bản thân họ.”

Theo Yahoo Health

Nguyên nhân số một gây trầm cảm ở nhiều nơi trên thế giới

Theo một nhóm các nhà nghiên cứu trên thế giới (bao gồm một số từ London và nhiều nơi tại Tây Ban Nha), những người chịu sự lạm dụng trong giai đoạn tuổi thơ có nhiều khả năng được chẩn đoán là trầm cảm lâm sàng – và nhiều khả năng hơn nữa nếu như họ có khả năng mắc tình trạng này thông qua di truyền. Trong khoảng thời gian ba năm, các nhà nghiên cứu đã phân tích các bệnh nhân từ 41 bệnh viện khác nhau tại các quận tại Tây Ban Nha, những bệnh nhân tuổi từ 18 đến 75. Và những gì họ phát hiện thông qua việc kiểm tra gen là: Những người tham gia có chức năng gen giới hạn ở cả BDNF (một gen mã hóa protein, là nhân tố dinh dưỡng thần kinh giúp não khỏe mạnh) và gen quy định việc dẫn truyền serotonin (một chất dẫn truyền thần kinh của não bộ) trở nên nhạy cảm hơn rất nhiều vì những chấn thương ảnh hưởng từ việc bị lạm dụng khi còn nhỏ – dù sự lạm dụng đó có là tâm lý, thể lý hay tình dục. Nói cách khác, sự kém hoạt động gen đặc biệt này cộng với một quá khứ lạm dụng có thể dẫn đến sự gia tăng nguy cơ bị trầm cảm.

Blanca Gutiérrez, giáo sư khoa tâm thần tại Đại Học Granada và cũng là nhà nghiên cứu chính trong nghiên cứu này phát biểu rằng những phát hiện này rất có giá trị trong việc chữa trị: “Nó chứng minh mối liên hệ giữa bộ ba môi trường và bộ gen của chúng ta, nó đặc biệt có ý nghĩa hơn nữa khi ta xem xét sự đáp ứng của cơ thể đối với thuốc chống trầm cảm là được chuyển hóa trung gian thông qua những protein được mã hóa bởi hai gen trong nghiên cứu”. Nghiên cứu được xuất bản gần đây trên tạp chí Journal of Psychiatry and Neuroscience (Tạp chí tâm thần và khoa học thần kinh).

Theo Yahoo

Trình độ học vấn và hạnh phúc có thể không đi đôi với nhau!

happywithwork

Học vấn cao chưa chắc giúp bạn hạnh phúc, đây là kết quả từ một nghiên cứu tại Anh. Các tác giả của nghiên cứu mới này cho biết, những nghiên cứu trước đây đã cho thấy mối liên kết mạnh mẽ giữa học vấn thấp và các bệnh tâm thần (mental illness). Vì vậy, họ muốn tìm ra liệu trình độ học vấn có mối tương quan với hạnh phúc tinh thần (mental well-being) hay không. Hạnh phúc này được định nghĩa là “cảm thấy thoải mái và thực hiện tốt các hoạt động chức năng.”

Các nhà nghiên cứu tại Đại học Warwick giải thích: những người có mức độ hạnh phúc tinh thần cao có nhiều khả năng cảm thấy hạnh phúc và hài lòng hơn với cuộc sống của họ vì cách họ giải quyết với các vấn đề và các thử thách, đặc biệt là cách mà họ giải quyết các vấn đề về mối quan hệ với những người xung quanh!

Nghiên cứu này được xuất bản trong tạp chí British Journal of Psychiatry. Các nhà nghiên cứu đã phân tích phản hồi từ hơn 17.000 người tại Anh. Họ được khảo sát vào năm 2010 và 2011. Trong đó, họ phát hiện ra rằng tất cả những người ở những trình độ học vấn khác nhau đều có một tỷ lệ tương tự nhau về những người có hạnh phúc tinh thần cao.

Nhà nghiên cứu chính Sarah Stewart-Brown, giáo sư tại Đại học Warwick cho biết: “Những phát hiện này khá là gây tranh cãi vì chúng tôi đã nghĩ là sẽ phát hiện ra các yếu tố kinh tế xã hội có liên quan với bệnh tâm thần cũng có mối tương quan với sự hạnh phúc tinh thần. Vì vậy nên nếu trình độ học vấn thấp có liên kết mạnh mẽ với bệnh tâm thần thì trình độ học vấn cao sẽ có liên kết mạnh mẽ với sự hạnh phúc tinh thần. Nhưng thực tế lại không phải như thế.”

Sarah nói thêm rằng: “Những giả định về các yếu tố kinh tế xã hội quyết định (như trình độ giáo dục và mức thu nhập) được tạo ra trong các chương trình sức khỏe tâm thần tập trung vào việc phòng ngừa các bệnh tâm thần có thể vì thế mà không áp dụng được cho các chương trình có mục đích gia tăng hạnh phúc tinh thần.”

Theo Healthday

Bạn có hiểu rõ về cô đơn?

 

loneliness.jpg
Mặc dù hầu như ai cũng đã từng trải qua sự cô đơn, nhưng có lẽ miêu tả nó như thế nào vẫn không phải là một việc dễ dàng. Nó là cảm giác thắt bụng khi bạn ở xa người bạn yêu thương, nỗi buồn khi mất đi một người mà bạn quan tâm, nỗi đau khi cảm thấy như người ngoài lề xã hội, hay sự đau khổ khi yêu một người mà không yêu mình. Chúng ta cảm thấy cô đơn khi chúng ta không hạnh phúc với chất lượng hay số lượng những mối quan hệ với người khác xung quanh ta. Chúng ta cảm thấy cô đơn vì chúng ta nghĩ rằng chúng ta thiếu gắn kết với bạn bè, gia đình hay với người ta yêu.

Đôi khi chúng ta thật sự là cô đơn, nhưng nhiều lúc chỉ là chúng ta nghĩ rằng mình cô đơn. Dù thế nào đi nữa, cô đơn cũng không phải điều tốt lành gì. Trong hơn 40 năm, các nhà khoa học đã nghiên cứu nhiều khía cạnh của sự cô đơn, từ yếu tố di truyền của cô đơn đến việc cảm thấy sự cô đơn có ảnh hưởng như thế nào đến tuổi thọ hay chất lượng cuộc sống của một người. Trong những năm này, chúng ta đã học được nhiều thứ – bao gồm cả những điều có vẻ là trái ngược. Chúng ta đã khám phá được năm hiểu lầm phổ biến về sự cô đơn, để hiểu tốt hơn và mong là có thể chiến thắng được những cảm xúc tiêu cực mà tất cả chúng ta đều có này:

Cô đơn không chỉ là cảm xúc của loài người

Thường chúng ta nghĩ rằng phản ứng cảm xúc của chúng ta, từ sự tức giận đến cô đơn đều chỉ có thành viên thuộc loài người là có thể cảm nhận được. Nhưng khoa học đã cho thấy có khá nhiều loài thật sự cảm nhận được sự cô đơn, và cảm xúc gắn liền với sự cô đơn là một yếu tố quan trọng trong hệ thống cảnh báo sinh học đảm bảo cho sự sinh tồn.

Những loài xã hội – như chúng ta – dựa trên các thành viên khác của loài từ khi sinh ra, và trong nhiều trường hợp, việc cô đơn có nghĩa là không kiếm đủ thức ăn hay không có đủ sự bảo vệ đối với những kẻ săn mồi khác. Vì thế, cái mà chúng ta gọi là sự cô đơn có thể là cách của cơ thể bảo vệ chúng ta khi chúng ta bị cách ly nhằm đảm bảo sự sinh tồn, giống như sự đói bụng cảnh báo rằng chúng ta cần phải ăn. Các nhà khoa học giải thích trong nghiên cứu của tạp chí Perspectives on Psychological Science rằng: “Cô đơn đại diện cho khuynh hướng thích nghi chung trong phản ứng đối với sự bất đồng giữa các mối quan hệ xã hội thật sự và mối quan hệ xã hội ưa thích của một loài động vật, điều này có thể được tìm thấy ở sự phát sinh loài”.

Ví dụ, họ lưu ý rằng việc thiếu ngủ thường có liên quan với sự cô đơn. Khi chúng ta ngủ, chúng ta dễ dàng bị tấn công nhất, và vì vậy ngủ ít hơn khi cô đơn có thể giúp tổ tiên của chúng ta sống sót cho đến khi kết nối lại được với những người khác. Việc hiểu được rằng chúng ta không phải là loài duy nhất cô đơn trên hành tinh có thể giúp chúng ta hiểu nguồn gốc sinh học của những cảm xúc tiêu cực của chúng ta dựa trên các mô hình động vật, và có thể nó sẽ cho chúng ta những hiểu biết rất cần thiết về cách để bớt cô đơn hơn.

Sự cô đơn không chỉ là một sản phẩm của môi trường hay hoàn cảnh quanh ta

Các nhà khoa học càng nghiên cứu về sự cô đơn thì họ càng phát hiện rằng một phần lớn cảm xúc của chúng ta được quy định trong ADN. Những gen điều chỉnh các chất dẫn truyền thần kinh và hệ miễn dịch đã được phát hiện là có liên kết với việc làm cảm xúc trở nên tệ hơn khi ta một mình. Những điều đó không có nghĩa rằng chúng ta đổ lỗi hoàn toàn lên hệ gen của chính mình, nhưng những người với những biến thể gen nhất định sẽ cảm thấy cô đơn hơn người khác khi ở trong cùng một hoàn cảnh. Bằng việc hiểu biết cách hệ gen ảnh hưởng như thế nào đến việc chúng ta cảm thấy tệ đến mức nào khi một mình, các nhà khoa học có thể có khả năng quyết định loại hỗ trợ hoặc điều trị nào là tốt nhất cho con người, đặc biệt là khi sự cô đơn dẫn đến trầm cảm và những trạng thái cảm xúc khác nguy hiểm hơn.

Sự cô đơn khác nhau trong mọi độ tuổi

Mọi người đều cảm thấy cô đơn ở một thời điểm nào đó trong cuộc đời mình. Nhưng ở những độ tuổi khác nhau, sự cô đơn có thể là những điều khác nhau, và chúng bị kích hoạt bởi những trải nghiệm khác nhau. Ví dụ, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng số lượng bạn bè thì quan trọng khi chúng ta trẻ. Nhưng khi chúng ta già đi, số lượng lại trở nên ít quan trọng hơn so với chất lượng, trong khi đó, các mối quan hệ tình cảm thì lại càng đặc biệt trở nên quan trọng hơn hết. Vì lý do là khác nhau nên cách mà chúng ta phản ứng với sự cô đơn cũng thay đổi trong suốt cuộc đời. Và cũng vì vậy nên cách giải quyết tốt nhất đối với các cảm xúc tiêu cực cũng sẽ thay đổi.

Sự cô đơn không chỉ là cảm xúc

Chúng ta thường nghĩ rằng sự cô đơn là cảm xúc và suy nghĩ, nhưng những cảm xúc tiêu cực này có sự ảnh hưởng lên cơ thể của chúng ta vượt xa cả sự buồn rầu hay sầu muộn. Theo các nhà nghiên cứu, sự cô lập xã hội thật sự và sự cô lập xã hội trong nhận thức đều có liên quan đến sự gia tăng nguy cơ tử vong sớm. Một phần là vì chúng ta thường không đối xử tốt với cơ thể của chính mình khi chúng ta buồn – chúng ta hút thuốc lá, uống rượu hoặc tham gia vào những hành vi có hại cho sức khỏe để thích nghi. Nhưng sự cô đơn cũng gây nên những thay đổi sinh lý tệ hơn cho chúng ta, như cơn tăng huyết áp đột ngột hoặc sự tập trung tăng cao của một số hóc-môn nhất định. Tất cả những điều này có nghĩa rằng chủ động về sức khỏe khi chúng ta cô đơn có thể là một cách thức khác giúp chúng ta thoát ra khỏi suy nghĩ tiêu cực; nếu chúng ta lựa chọn một cách có ý thức về việc ăn uống tốt hơn hoặc thực hiện những hành vi tốt hơn cho sức khỏe khi chúng ta đang ở trong trạng thái tệ nhất, chúng ta không chỉ có thể cải thiện cơ thể của mình mà còn có khả năng cải thiện tâm trạng của chính mình.

Cô đơn không phải lúc nào cũng là một điều không tốt

Mặc dù cảm giác cô đơn rất khủng khiếp và có thể gây hại cho cơ thể của bạn, nhưng nó tiến hóa nhằm giúp ích cho chúng ta và hiện nay nó vẫn đang mang mục đích đó. Các nhà khoa học tin rằng ác cảm với sự cô đơn tiến hóa như một dấu hiệu nhắc nhở chúng ta rằng các mối quan hệ của chúng ta đang đổ vỡ hoặc đang có nguy cơ đổ vỡ, vì thế điều này khuyến khích chúng ta duy trì hoặc sửa chữa những đổ vỡ đó. Vì vậy sự cô đơn giúp chúng ta thúc đẩy những mối quan hệ khỏe mạnh với những người xung quanh, cùng cách thức mà cảm giác khát đảm bảo việc chúng ta uống đủ nước. Và mặc dù nó cũng gây tổn thương cho chúng ta, khoa học đã cho thấy đối với hầu hết mọi người, sự cô đơn biến mất tương đối nhanh, được thay thế bởi cảm giác ấm áp nhẹ nhàng khi chúng ta liên kết với những người khác. Cảm giác cô đơn dai dẳng có thể gây hại, nhưng khi chúng ta hiểu biết nhiều hơn về cách thức và lý do chúng ta cảm thấy những gì mình đang cảm thấy, chúng ta sẽ càng có khả năng biến sự cô đơn thành công cụ hướng đến một con người hạnh phúc nhất, khỏe mạnh nhất.

Theo Yahoo Health

Ba cạm bẫy lo âu phổ biến và cách phòng tránh chúng

Bai 8

Nếu bạn là một người lo âu, có lẽ bạn thường xuyên được nói rằng đừng lo lắng nhiều như thế – hãy “ngừng suy nghĩ quá nhiều về mọi thứ” và “cứ thư giãn đi”. Và cho đến giờ, có lẽ bạn đã từ bỏ việc cố gắng cảm thấy tốt hơn và cam chịu cái ý tưởng rằng có một điều gì đó không đúng với bạn. Nhưng tiến sỹ Alice Boyes, tác giả của sách Bộ công cụ dành cho sự lo âu (The Anxiety Toolkit) cho rằng điều này là không chính xác. Bà giải thích trong một buổi phỏng vấn với tạp chí Sức khỏe (Health): “Việc chúng ta có ai đó trong cộng đồng của mình là người gan dạ và ai đó là người lo lắng là điều tốt — điều này tạo nên một đường cong bình thường, với những dạng người khác nhau ở hai đầu đường cong đó.”

Bà nói trong sách của mình: “Vấn đề là khi sự lo âu dâng cao đến một mức khiến bạn tê liệt. Tôi thường nghĩ đến chúng như những cạm bẫy lo âu cổ chai.” Boyes miêu tả quá trình leo ra khỏi những cạm bẫy này là một cách thức “tinh chỉnh” tâm trí của bạn: “Bạn đang học cách làm việc với phần cứng và phần mềm của chính bạn theo cách hiệu quả nhất.”

Sau đây là những lời khuyên của Boyes nhằm giúp bạn thoát khỏi ba trong số những cạm bẫy thường gặp nhất!

  1. Bạn chần chừ hành động cho đến khi bạn sẵn sàng 100%

Một phần lớn sự lo âu là có một cảm giác “không chịu được việc không chắc chắn”. Nó bao gồm nỗi sợ hãi thất bại, và nó có thể giữ bạn vướng trong vũng bùn của trạng thái dự định. Bạn có thể có khuynh hướng cân nhắc rất nhiều ý tưởng mà không bao giờ thử bất cứ ý tưởng nào trong số đó. Hoặc bạn có thể thường xuyên bị vướng ở giai đoạn nghiên cứu của những dự án mới.

Cách giải thoát: Những người dễ lo âu thường tập trung vào kết quả tồi tệ nhất có thể xảy ra, vì vậy họ lo lắng quá nhiều về nguy cơ khi hành động. Nhưng thực tế là luôn có một dải các khả năng: “Khi tôi trị liệu, tôi thường nói với thân chủ của mình hãy xác định những điều tồi tệ nhất có thể xảy ra, điều tốt nhất có thể xảy ra và điều thực tế nhất. Và kể chúng theo thứ tự đó.” Ý tưởng ở đây là giúp bản thân bạn công nhận những cơ hội cùng tồn tại song song với những nguy cơ, để bạn có thể cảm thấy an toàn hơn khi hành động.

Một cách khác là hãy lập kế hoạch cách thức bạn có thể thích nghi nếu trường hợp tệ nhất trở thành sự thật. “Những người lo âu luôn luôn suy nghĩ, Sẽ ra sao nếu? Nhưng họ không bao giờ thật sự trả lời câu hỏi đó.” Thay vì liên tục cố gắng tránh những kết quả xấu, hãy lập kế hoạch hành động. Điều này có thể thúc đẩy nhận thức về bản thân của bạn như một người có thể giải quyết khó khăn khi chúng xảy ra, điều này sẽ giúp bạn an tâm hơn.

  2. Bạn ám ảnh về sai lầm

Suy nghĩ quá nhiều về những sai lầm trong quá khứ – điều này có nghĩa là bạn đã lặp đi lặp lại chúng trong tâm trí của bạn – đây gọi là tư duy nhai lại, và nó có thể khiến bạn phải vướng vào những nút thắt trong thất bại.

Cách giải thoát: Boyes nói: “Đôi khi một cách tốt để giải thoát khỏi vòng tròn là hãy suy nghĩ đến những bước cụ thể để bước tiếp.” Bà gợi ý bạn có thể bắt đầu bằng cách ghi ra ba hành động mà bạn có thể thực hiện ngay lúc này. Ví dụ, nếu bạn vừa thuê một nhân viên mới không làm được việc, thay vì tự trách móc chính mình vì đã bỏ qua những lỗ hổng trong thư xin việc hay những dấu hiệu khác của người đó, hãy đưa ra ba lựa chọn cho bạn: 1) Bạn có thể giao cho nhân viên đó ít trách nhiệm hơn, 2) Bạn hướng dẫn thêm cho nhân viên đó, 3) Bạn sa thải nhân viên đó. Boyes giải thích: “Lập danh sách chuyển tâm trí của bạn trang trạng thái tích cực hơn.”

  3. Bạn sợ hãi sự chỉ trích

Người lo âu thường làm mọi cách để tránh phản hồi vì họ đã đánh giá bản thân rất khắc khe, và sự chỉ trích từ những người khác thì lại càng đặc biệt khiến họ buồn hơn nhiều. Boyes nói thêm rằng: “Hơn nữa, bạn có thể biết rằng bạn sẽ lặp đi lặp lại sự chỉ trích đó trong đầu bạn hằng ngày, hằng tuần sau đó, và điều đó sẽ khiến nó tệ hại hơn nữa.”

Cách giải thoát: Hãy thử thư giãn khi bạn đang được phê bình. Mặc dù bạn có thể cảm thấy cực kỳ khó chịu hoặc cảm thấy bạn cần phải cố gắng gồng mình lên, nhưng hãy cứ gửi những tín hiệu thể lý rằng bạn đang cảm kích. Boyes gợi ý, bạn có thể thực hiện những động tác như: Hạ vai xuống, ngẩng đầu lên, thư giãn hai bàn tay của bạn. Và đây không chỉ là hành động: “Cảm xúc và suy nghĩ của bạn sẽ nhanh chóng theo kịp những dấu hiệu không lời mà bạn thực hiện.”

Bạn có thể chuẩn bị sẵn những câu trả lời để dùng khi bạn bị mắc kẹt. Ví dụ bạn có thể nói: “Tôi sẽ suy nghĩ cách tốt nhất để tiếp tục sau. Tôi sẽ gửi thư điện tử cho bạn cùng với suy nghĩ của mình sau.” Điều này sẽ cho bạn thêm thời gian để có thể xử lý thông tin trong tâm trí và phản hồi một cách hiệu quả.

Theo Health.com