Dạy trẻ con thế nào để trở thành người vững vàng, không bị ảnh hưởng bởi đánh giá bên ngoài?

17626587_419342375093961_8594492979431863599_n

Đây là Daniel Radcliffe. Cậu ấy bằng tuổi mình. Năm 10 tuổi, được chọn đóng vai Harry Potter nhờ vào ngoại hình giống những miêu tả về cậu bé phù thủy, nhờ thế trở thành thiếu niên Anh không thuộc hoàng gia có tài sản lớn nhất. Được làm việc cậu yêu thích là đóng phim, và giàu có đủ để cả đời không bao giờ phải lo nghĩ đến tiền bạc, lại nổi tiếng khắp thế giới, vậy Daniel phải là một chàng trai hạnh phúc? Ngược lại, trong suốt nhiều năm trước, cậu nghiện rượu vì cái bóng của vai diễn trong chuỗi phim Harry Potter quá lớn. Sức ép phải “luôn là cái gì đó” khiến Daniel bị khủng hoảng, và tìm đến rượu để quên đi sự bế tắc của mình!

Tưởng đây chỉ là vấn đề của các ngôi sao thôi ư? Đợt làm tình nguyện viên cho tổ chức hỗ trợ phụ nữ bị buôn bán, mình được xem và nghe những câu chuyện khá ám ảnh. Những kẻ buôn bán người thường nhắm vào những thiếu niên thiếu tự tin, và cảm thấy bất ổn trong lòng (insecure). Chúng sẽ chìa bàn tay ra, có thể là người bạn, có thể làm người yêu, và khi thiếu niên đó cảm thấy người này là người duy nhất công nhận mình, hiểu mình, trân trọng mình, thì sẽ rất sẵn lòng bỏ nhà đi, hoặc làm những việc mà bọn kia sai bảo.

Mình vẫn hay nghĩ, làm thế nào để có thể nuôi dạy một đứa trẻ để nó lớn lên thành một người vững vàng, dù hoàn cảnh thay đổi thế nào cũng không xao động? Quan trọng là, cần có những yếu tố gì để một con người không bị tác động bởi những sự đánh giá từ bên ngoài?

Có những điều cơ bản thế này.

  1. Cha mẹ không bao giờ được so sánh con với người khác

Điều này khó, vì trong hệ thống giáo dục của chúng ta, “thi đua” lúc nào cũng là câu cửa miệng. Mỗi khi trả bài kiểm tra, cô sẽ gọi điểm, tức là từng học sinh phải đọc to điểm của mình cho cả lớp nghe thấy. Cuối tháng thì bảng xếp thứ cả lớp được gửi về từng nhà. Trẻ nhỏ lúc nào cũng bị nhắc cho nhớ so với bạn này, bạn kia, mình đang đứng ở đâu.

Việc so sánh không tạo nên động lực, nó chỉ gây ra cảm giác bất an và ghen tị. Cha mẹ nghĩ con nên biết mình kém để cố gắng ư, thế thì chỉ cần so sánh con với chính bản thân con của tháng trước, năm trước, chứ không phải với bạn Tý bạn Tèo nào cả. Con nhà người ta không phải là chuẩn mực, dù Facebook có suốt ngày đập vào mắt những em bé 3 tuổi biết đọc 7 tuổi biết làm thơ bằng tiếng Anh để bố mẹ nhòm ngó con nhà người ta mà nghiến răng nghĩ đến con mình. Có ai thích suốt ngày đi làm bị sếp nói “Anh không bằng đồng nghiệp của anh” không?

So sánh với người khác là một thói quen xấu, vì vượt được người này rồi, sẽ có người khác giỏi hơn. Cuộc đời của con sẽ là một chuỗi ganh đua không bao giờ chấm dứt, và cho dù có tốt thế nào, cũng vẫn cảm thấy mình thất bại.

  1. Tập trung vào nỗ lực, thay vì bản tính

Có một thí nghiệm cho hai nhóm học sinh làm đề thi khó. Một nhóm sau khi làm xong, được khen là “các con đã cố gắng rất nhiều”, còn nhóm kia được khen “các con thật giỏi”. Sau đó, hai nhóm được cho làm đề khác. Nhóm thứ nhất có kết quả vượt hẳn nhóm thứ hai. Lời giải thích được đưa ra là, khi cố gắng được khen ngợi, trẻ sẽ càng muốn cố gắng hơn, và không ngại sai, không ngại khó. Còn nhóm thứ hai, vì chỉ tập trung vào một thứ không thay đổi được, là sự thông minh, thì các em ngại bị sai, ngại thử thách, vì sợ mình sẽ không được như lần trước.

Người lớn đừng khen là “con thật giỏi”, “con thật đẹp trai/xinh gái”, “con thật thông minh”, vì đó là những thứ con không kiểm soát được, mà phải nhờ vào sự đánh giá từ bên ngoài. Hãy khen “con biết giúp mẹ như vậy là tốt”, “con bảo vệ bạn”, “con chạy chậm nhưng con không bỏ cuộc”, vì đó là những điều con tự chủ được. “Con đã cố gắng rất nhiều, mẹ tự hào về con” thì ngụ ý rằng “lần sau con cố gắng tiếp nhé”, khác với “con thật giỏi, mấy đứa kia kém xa”, ngụ ý rằng “nếu có lúc bạn vượt lên thì tức là con không giỏi nữa.”

Đặt giá trị của con vào sự đánh giá chủ quan từ bên ngoài, sẽ khiến cho con luôn bị phụ thuộc vào những sự đánh giá đó.

  1. Cha mẹ phải bỏ qua những hệ thống đánh giá hàng ngày

Có nhiều người đánh đồng điểm số cao là con ngoan, con biết thương mẹ, điểm thấp là con hư, con không biết nghĩ cho bố mẹ vất vả. Điểm số thì cũng là do cô giáo cho, cô giáo có hôm vui vẻ, có hôm cáu gắt. Cô cũng có những điều phiến diện, tại sao lại dựa vào đấy để định giá trị của con?

Từ trước đến nay, mỗi khi nhìn thấy một bé gái mặc đồ bó sát, đi giày cao gót, mình lại thấy gờn gợn. Gần đây mình mới lý giải được cảm giác đó. Khi bắt một đứa trẻ phải đẹp theo chuẩn mực của người lớn, thông điệp được đưa ra ở đây là, chỉ có một cách để đẹp, và con phải tuân theo cái đẹp đó thì mới được ngợi khen. Những bạn gái điệu đà trong thời đi học mà mình từng biết, thường là những bạn gái yêu sớm, lấy chồng và có con sớm. Mình thường tự hỏi, có phải vì việc xinh đẹp rất quan trọng với các bạn, mà có xinh hay không lại cần những người đàn ông xung quanh xác nhận, nên các bạn dễ đi theo con đường đấy?

Bản thân cha mẹ phải giải phóng mình khỏi những hệ thống đánh giá của xã hội xung quanh. Nếu con quan sát thấy cha mẹ suốt ngày quan tâm đến nhà hàng xóm đi xe gì, mua mấy mảnh đất, có túi da xịn không, thì con cũng sẽ lớn lên và quan tâm đến những dấu hiệu bên ngoài để đánh giá đấy. Và dĩ nhiên, nếu không có được những thứ mà người xung quanh con cho là quan trọng, con sẽ thấy bất ổn.

  1. Gỡ bỏ giới hạn

Tại sao con gái thì phải chơi đồ chơi màu hồng? Con trai chỉ được chơi súng và siêu nhân? Tại sao con trai thì không được để tóc dài, còn con gái thì không được “nghịch như giặc”? Trẻ nhỏ để ý và thấm nhuần những giới hạn của người lớn rất nhanh. Đến khoảng 3 tuổi, trẻ đã biết những vai trò giới mà xã hội xung quanh gán cho mình. Con gái thì phải nói nhỏ thôi, chơi búp bê. Con trai thì được nhảy nhót, bôi bẩn quần áo, bắn nhau bùm chíu. Con gái học cấp 1 là phải biết làm việc nhà đơn giản rồi, còn con trai thì sẽ được tặc lưỡi “nó biết cái gì đâu”.

Nếu muốn con lớn lên an nhiên và tự tại, cha mẹ đừng áp đặt giới hạn lên con. Con gái thích chơi ô tô thì có sao? Con trai thích sơn móng tay màu hồng thì cũng ảnh hưởng gì đến hòa bình thế giới? Con thích bày đồ chơi, được thôi, nhưng con phải dọn. Mình chứng kiến nhiều người cứ gào lên “Con nói bé thôi. Con không được chạy, mồ hôi ra ốm. Con không được sờ vào con mèo.” Đủ thứ mệnh lệnh và những giới hạn chẳng có gì quan trọng, mà khiến cho tất cả đều mệt mỏi. Thỉnh thoảng cha mẹ hãy cùng con vẽ linh tinh lên tường. Thỉnh thoảng con thích đi hai chiếc tất khác màu đến lớp, có sao đâu!

Càng có nhiều giới hạn, con người ta càng bớt tự do!

  1. Hãy lắng nghe con

Không ai có một nhân dạng (identity) vững vàng mà không phải vật vã với vô vàn câu hỏi. Mỗi tuổi sẽ có những câu hỏi khác nhau. Mẫu giáo thì hỏi, con thích màu gì, con thích con vật gì. Tiểu học thì hỏi, lớn lên con thích làm nghề gì. Trung học thì hỏi, con là người hướng nội hay hướng ngoại, hòa đồng hay tinh tế. Và giữa những câu hỏi đó, cha mẹ có thể là người vùi dập, bắt con phải theo một khuôn mẫu, hoặc có thể nuôi nấng cho tính cá nhân của con nở hoa.

Hồi cấp 2, mình cũng máu buôn bán, mang bánh ngọt đến lớp bán cho các bạn. Được hai ngày thì cô chủ nhiệm gọi ra mắng, nên hăm hở làm giàu tắt lịm luôn từ đó. Giờ nghĩ lại, không biết nếu lúc đó được khuyến khích, thì giờ có thành chủ doanh nghiệp trẻ hay đi sang biên giới đánh hàng Quảng Châu hay không.

Mình vẫn nhớ câu chuyện về thầy hiệu trưởng lắng nghe Totochan luyên thuyên trong 3 tiếng đồng hồ mà không tỏ vẻ buồn chán. Ở trường cũ, em bị cho là có vấn đề về tập trung, nhưng thật ra em chỉ có trí tưởng tượng quá sức phong phú, mà chẳng có ai đánh giá đúng cho đến khi em gặp thầy hiệu trưởng trong ngôi trường trên toa tàu. Totochan may mắn vì em được học trong ngôi trường cho những đứa trẻ sự tự do để làm chính mình, chứ không phải là một bà bác sĩ kê đơn cho em uống thuốc để giảm tăng động và ngồi học ngoan.

Vấn đề nằm ở sự đánh giá! Nhưng nếu không có sự đánh giá nào cả, có phải tốt hơn không?

Tác giả: Nguyễn Hồng Vân – Thạc sĩ Xã hội học

Tại sao bạn cần trí tuệ cảm xúc để thành công

Khái niệm trí tuệ cảm xúc ngay từ lần đầu xuất hiện đã trở thành liên kết còn thiếu trong một phát hiện đặc biệt: những người có chỉ số thông minh trung bình làm việc tốt hơn những người có chỉ số thông minh cao nhất trong 70% tổng số thời gian. Sự bất thường này đã là một điều bất ngờ lớn về cái mà nhiều người đã luôn luôn giả định là nguồn gốc duy nhất của sự thành công, vốn là IQ . Nhiều thập kỷ của các nghiên cứu đã chỉ ra rằng trí tuệ cảm xúc là yếu tố quan trọng tạo nên sự khác biệt cho những người làm việc xuất sắc so với các nhóm còn lại.

EIfeature

Trí tuệ cảm xúc là “một cái gì đó” vô hình trong mỗi chúng ta. Nó ảnh hưởng đến cách chúng ta quản lý các hành vi, cách chúng ta tự điều chỉnh theo các nguyên tắc xã hội, và cả cách chúng ta đưa ra các quyết định cá nhân dẫn đến kết quả tích cực. Trí tuệ cảm xúc được tạo thành từ bốn kỹ năng cốt lõi thuộc hai khả năng chính: năng lực cá nhân và năng lực xã hội.

Năng lực cá nhân bao gồm sự tự nhận thức và kỹ năng tự quản lý của bạn, trong đó tập trung nhiều hơn vào cá nhân bạn thay vì vào sự tương tác của bạn với những người khác. Năng lực cá nhân là khả năng nhận biết cảm xúc và quản lý hành vi, xu hướng của bạn.

  • Tự nhận thức là khả năng cảm nhận chính xác cảm xúc của bạn và nhận biết chúng khi chúng xảy ra .
  • Kỹ năng tự quản lý là khả năng sử dụng nhận thức về những cảm xúc của bạn để có thể linh hoạt và tích cực chỉ đạo hành vi của bạn .

Năng lực xã hội được tạo thành từ khả năng nhận thức xã hội và kỹ năng quản lý mối quan hệ của bạn; năng lực xã hội là khả năng hiểu được tâm trạng, hành vi và động cơ của người khác để đáp ứng một cách hiệu quả và nâng cao chất lượng các mối quan hệ của bạn.

  • Nhận thức xã hội là khả năng chỉ ra chính xác tình cảm cho người khác và hiểu những gì đang thực sự xảy ra .
  • Kỹ năng quản lý mối quan hệ là khả năng sử dụng nhận thức về những cảm xúc của bạn và cảm xúc của người khác để quản lý các tương tác thành công.

Trí tuệ cảm xúc, trí thông minh và tính cách là khác nhau

Trí tuệ cảm xúc là một yếu tố cơ bản của hành vi con người khác biệt so với trí tuệ của bạn. Hiện nay trong nghiên cứu không phát hiện ra bất cứ quan hệ nào giữa chỉ số IQ và trí tuệ cảm xúc; bạn chỉ đơn giản là không thể dự đoán trí tuệ cảm xúc dựa trên sự thông minh của một người nào đó. Thông minh là khả năng tìm hiểu của bạn, và nó là như nhau ở tuổi 15 và ở tuổi 50. Trí tuệ cảm xúc, mặt khác, là một tập hợp các kỹ năng linh hoạt có thể được học và phát triển thông qua thực hành. Một số người có sẵn sự thông minh về mặt cảm xúc cao hơn những người khác, nhưng bạn cũng có thể phát triển trí tuệ cảm xúc cao ngay cả khi bạn không được sinh ra với khả năng đó.

Tính cách là phần cuối cùng của câu đố. Tính cách là ” phong cách” ổn định làm nên mỗi chúng ta. Tính cách là kết quả của những sở thích được quy định bên trong, chẳng hạn như bạn nghiêng về phía hướng nội hay hướng ngoại. Tuy nhiên, giống như IQ, tính cách không thể dùng để dự đoán trí tuệ cảm xúc. Cũng giống như IQ, tính cách ổn định trong suốt cuộc đời và không thay đổi. IQ, trí tuệ cảm xúc và tính cách mỗi phần đều là một mảnh trời riêng biệt và tập hợp cả ba giúp chúng ta giải thích được cái làm nên con người.

Trí tuệ cảm xúc dự đoán hiệu suất làm việc

Trí tuệ cảm xúc ảnh hưởng đến mức nào đối với sự thành công nghề nghiệp của bạn?

Câu trả lời ngắn gọn là: Rất nhiều! Đó là một cách để tập trung năng lượng của bạn theo một hướng để tạo ra một kết quả to lớn. Trang web TalentSmart đã kiểm tra trí tuệ cảm xúc cùng với 33 kỹ năng làm việc quan trọng khác, và thấy rằng trí tuệ cảm xúc là yếu tố dự báo mạnh nhất về hiệu suất, giải thích đầy đủ cho tỷ lệ 58 % thành công trong tất cả các loại công việc.

Trí tuệ cảm xúc của bạn là nền tảng cho một loạt các kỹ năng quan trọng, nó tác động đến hầu hết tất cả mọi thứ bạn làm và nói mỗi ngày.

Trong số tất cả những người mà tác giả đã nghiên cứu tại nơi làm việc, tác giả đã phát hiện ra rằng 90% những người có hiệu suất làm việc hàng đầu cũng có trí tuệ cảm xúc cao nhất. Mặt khác, chỉ 20% những người có hiệu suất làm việc thấp nhất có trí tuệ cảm xúc cao. Bạn có thể là nhân viên đạt hiệu suất cao nhất mà không có trí tuệ cảm xúc, nhưng cơ hội là rất mỏng manh.

Đương nhiên, những người có trí tuệ cảm xúc cao làm ra số tiền trung bình trên 29.000$ mỗi năm cao hơn so với những người có trí tuệ cảm xúc thấp. Mối liên hệ giữa trí tuệ cảm xúc và thu nhập trực tiếp đến mức khi tăng một điểm trong trí tuệ cảm xúc thì sẽ tăng thêm 1.300$ trong mức lương hàng năm. Những phát hiện này đúng đối với tất cả những người làm việc ở tất cả các ngành, các cấp, trong tất cả các khu vực trên thế giới. Tác giả vẫn chưa thể tìm được một công việc nào mà trong đó hiệu suất và tiền lương không gắn liền với trí tuệ cảm xúc.

Bạn có thể làm tăng trí tuệ cảm xúc của bạn

Các thông tin liên lạc giữa tình cảm và lý trí của “bộ não”của bạn là nguồn vật chất của trí tuệ cảm xúc. Đường đi của trí tuệ cảm xúc bắt đầu trong não, ở tủys ống. Thông tin từ các giác quan của bạn nhập vào đây và phải đi qua phần phía trước não của bạn trước khi bạn có thể suy nghĩ một cách lý trí về kinh nghiệm của bạn. Tuy nhiên , đầu tiên các thông tin đó sẽ đi qua hệ viền, nơi cảm xúc được tạo ra. Vì vậy, chúng ta có phản ứng cảm xúc với các sự kiện trước khi lý trí của chúng ta có thể tham gia. Trí tuệ cảm xúc đòi hỏi phải giao tiếp hiệu quả giữa trung tâm lý trí và trung tâm cảm xúc của bộ não.

“Độ dẻo” là khái niệm các nhà thần kinh học sử dụng để mô tả khả năng thay đổi của não bộ. Khi bạn phát hiện và thực hành các kỹ năng trí tuệ cảm xúc mới, hàng tỷ tế bào thần kinh nhỏ dọc theo con đường giữa các trung tâm lý trí và tình cảm của não bộ bạn tạo nên những nhánh “tay” nhỏ (giống như một cái cây) để tiếp cận với các tế bào khác. Một tế bào có thể phát triển 15.000 kết nối với các tế bào láng giềng của nó. Phản ứng tăng trưởng dây chuyền này đảm bảo một hành vi mới dễ dàng được chuyển thành hành động trong tương lai .

Khi bạn luyện tập cho não của bạn bằng cách liên tục thực hành những hành vi trí tuệ cảm xúc mới, bộ não của bạn xây dựng các con đường cần thiết để biến chúng thành thói quen. Chẳng bao lâu , bạn bắt đầu phản ứng với môi trường xung quanh của bạn với trí tuệ cảm xúc mà không cần phải suy nghĩ về nó. Và cũng giống như bộ não của bạn củng cố việc sử dụng các hành vi mới, các kết nối hỗ trợ cho các hành vi phá hoại cũ sẽ chết đi khi bạn học cách hạn chế sử dụng chúng.


Tác giả: Travis Bradberry – Ông là đồng tác giả của sách Trí tuệ cảm xúc 2.0 và là nhà đồng sáng lập trang web đánh giá trí tuệ cảm xúc và đào tạo TalentSmart, cung cấp dịch vụ cho 75% công ty trongdanh sách 500 công ty của tạp chí Fortune.

Theo Forbes

10 cách đơn giản giúp bạn giảm stress

Tác giả Dominique Bertolucci đã chia sẻ kinh nghiệm giúp mình có một cuộc sống bình yên và hạnh phúc hơn sau nhiều năm sinh sống làm việc cùng với stress hằng ngày. Nếu bạn đang rất mệt mỏi với cuộc sống của mình, hãy thử áp dụng những bí quyết này nhé.

1. Sống trong hiện tại
Việc bạn vẫn còn muốn làm gì hay có gì không có nghĩa là bạn không thể tận hưởng cuộc sống hiện nay của mình.
Sống trong hiện tại không có nghĩa là bạn không quan tâm hay xem thường tương lai, nó chỉ đơn giản là ngay tại đây, ngay lúc này là nơi bạn dành phần lớn sự tập trung của mình.

2. Nạp năng lượng
Khi sống một cuộc sống bận rộn, bạn cần phải dành thời gian tự giải tỏa, thường xuyên.
Đừng chờ đến khi mức độ stress của bạn đã đạt đỉnh điểm, hãy dành thời gian mỗi ngày ngồi một cách thư giãn và yên tĩnh, bất kể việc bạn nghĩ mình có cần nó hay không.

3. Học cách nói không
Đừng cố gắng là mọi thứ đối với tất cả mọi người. Bạn có thể đôi lúc nói “Không”. Và thực tế là bạn hoàn toàn có thể nói “không” bất cứ khi nào bạn muốn.
Khi ai đó yêu cầu bạn làm gì đó, hãy ngừng câu trả lời tự động của bạn, và suy nghĩ xem đây có phải là điều bạn muốn làm, là điều bạn cần làm, hay là điều bạn phải làm? Nếu bạn không thể trả lời “phải” cho một trong những câu hỏi này, thì câu trả lời của bạn chắc chắn phải là “không”.

4. Hãy làm hết sức mình
Đừng cố gắng trở nên hoàn hảo. Không có thứ gì là hoàn hảo cả. Nó hoàn toàn nằm ở cách nhìn chủ quan của ta, điều này khiến sự hoàn hảo trở thành một mục tiêu bất khả thi.
Thay vào đó, hãy chỉ đơn giản là quyết tâm làm hết sức mình. Sau đó là thư giãn, tự tin rằng dù cho tốt nhất của bạn đôi khi chỉ là hơn trung bình một chút, thì nó vẫn luôn luôn là đã đủ tốt rồi.

5. Học cách thở
Việc lo lắng không chỉ làm kiệt sức tâm trí của bạn, nó còn gây ảnh hưởng làm suy nhược cơ thể bạn. Khi bạn thấy tâm trí của mình rối loạn, hãy ngừng một khắc và cảm nhận sự ảnh hưởng những luồng suy nghĩ quay cuồng đó đối với cơ thể mình.
Thay vì để tâm trí mình suy nghĩ mệt mỏi, hãy bắt đầu học cách thở chầm chậm và đều đặn. Hãy để sự bình yên quay trở lại tâm trí bạn và để sức mạnh đến với cơ thể bạn.

6. Hãy bỏ danh sách việc cần làm
Hãy ngừng lo lắng về tất cả mọi thứ bạn cần phải làm, đừng lo lắng về việc trì trệ những việc bạn không muốn làm hoặc chỉ trích bản thân vì những việc bạn đáng ra đã phải làm.
Thay vì làm một nô lệ cho một danh sách việc cần làm dài vô tận, hãy làm những việc có giá trị ngay bây giờ, và hãy bỏ đi hoặc giao phó cho người khác những việc còn lại.

7. Hãy nhìn vào mặt phải của vấn đề
Luôn luôn có hai mặt cho mọi vấn đề bạn trải nghiệm trong cuộc sống: mặt phải và mặt trái.
Thay vì tập trung vào phần sai, đáng thất vọng hay chán nản về một tình huống sẵn có, hãy quan sát mức độ stress của bạn giảm hẳn khi bạn tập trung vào mặt đúng của vấn đề.

8. Hãy dọn dẹp những mớ lộn xộn
Sẽ dễ dàng đạt được một tâm lý bình yên và rõ ràng khi bạn ở trong một môi trường yên bình và sạch sẽ, vì vậy đừng cố giữ những thứ bạn không muốn hay không cần.
Hãy hỏi bản thân những thứ bạn đang có trong nhà, trong tủ quần áo, hay trong phòng làm việc có phải là những thứ bạn rất cần hay không. Nếu không, hãy bán, quyên góp, hoặc cho chúng đi.

9. Có khoảng lặng
Hãy quay trở lại với khoảng thời gian trước khi thư thoại qua email, tin nhắn điện thoại trở thành một phần của cuộc sống hằng ngày. Ở thời điểm đó, nếu một người không thể liên lạc với bạn khi họ muốn, họ chỉ đơn giản là thử lại vào một lúc khác. Lúc này cũng không cần phải quá khác biệt so với thời điểm đó đâu.
Hãy tắt điện thoại. Bạn không cần phải hiện diện mãi mãi, chỉ cần tắt đủ thời gian để bạn thư giãn và tận hưởng giây phút bình yên.

10. Hãy dành thời gian cho những người bạn yêu thương
Khi bạn bước vào cuối cuộc đời, việc bạn kiếm được nhiều tiền, được thăng chức, có một căn nhà sạch sẽ hay có một thân hình hoàn hảo sẽ không còn quan trọng nữa. Điều quan trọng còn lại chính là bạn sống một cuộc sống đầy tình yêu, tiếng cười và sự vui tươi.
Đừng chờ đến khi bạn chết đi….hãy lấp đầy khoảng thời gian của bạn với ba điều quan trọng nhất này. Hãy thư giãn và tận hưởng cuộc sống của chính mình.

Theo MindBodyGreen

Con người thích những cú sốc điện hơn là dành thời gian một mình để suy nghĩ?

electric-shock

Trong thực tế, chúng ta thấy những suy nghĩ của riêng của mình rất khó chịu. Trong nghiên cứu được thực hiện tại Đại học Virginia, nhiều người đã lựa chọn các cú sốc điện cho bản thân thay vì ngồi suy tư trong tĩnh lặng.

Jonathan Schooler giáo sư tâm lý học của trường Đại học California đã nói: “Tôi rất ngạc nhiên khi mọi người lại có cảm giác tệ như vậy” Còn Santa Barbara, người không tham gia nghiên cứu cho biết: “Có vẻ như là một người bình thường thì không có khả năng tạo ra một dòng tư tưởng đủ thú vị để họ không phải quá khổ sở với chính mình.”

Nghiên cứu này khi được công bố trên tạp chí Khoa học đã thêm vào một kết quả khó hiểu trong lĩnh vực suy nghĩ. Mười một thí nghiệm độc lập khác cũng cho thấy rằng chúng ta cảm thấy những suy nghĩ của chúng ta ngu ngốc một cách đau đớn.

Đầu tiên, các nhà nghiên cứu đã cố gắng cho những người tham gia ở bất cứ nơi nào trong một phòng thí nghiệm tâm lý, trong khoảng thời gian từ 6-15 phút một mình để suy nghĩ. Họ không được phép ngủ, và họ không được phép kiểm tra điện thoại di động của họ. Nhìn chung, mọi người đánh giá thời gian nhàn rỗi này không thú vị lắm – chỉ ở mức 5 trên thang điểm từ 0 đến 9.

Các nhà nghiên cứu tự hỏi liệu có phải môi trường phòng thí nghiệm nhân tạo là vấn đề hay không. Vì vậy, họ đã cho những người người tham gia thực hiện cùng một nhiệm vụ trong sự thoải mái tại nhà riêng. Sự hưởng thụ của họ khi ở nhà thậm chí còn thấp hơn so với ở phòng thí nghiệm. Gần một phần ba số người thừa nhận họ gian lận bằng việc kiểm tra điện thoại của họ hoặc nghe nhạc.

Sau đó, các nhà nghiên cứu cho phép người tham gia hoặc được phép ngồi một mình và suy nghĩ, hoặc làm một hoạt động khác như đọc một cuốn sách hoặc sử dụng internet – mặc dù họ không được phép giao tiếp với người khác. Những người thực hiện các hoạt động khiến họ bị phân tâm khỏi những suy nghĩ riêng thì cảm thấy hạnh phúc hơn.

Timothy Wilson, giáo sư tâm lý trường Đại học Virginia, người đứng đầu nghiên cứu này đã thảo luận về các kết quả lạ cùng với người cộng sự tại Harvard của ông là giáo sư tâm lý học Daniel Gilbert, và họ bắt đầu động não để thực hiện một thí nghiệm khác. Nếu con người cảm thấy khó chịu khi ở một mình với những suy nghĩ của họ, họ có thể làm đến mức nào để có thể thoát thân?

Để trả lời câu hỏi này, họ bắt đầu bằng cách cho các tình nguyện viên tiếp xúc với các kích thích tích cực và tiêu cực, bao gồm cả hình ảnh đẹp và những cú sốc điện nhẹ. Họ hỏi những người tình nguyện họ sẽ trả tiền baonhiêu tiền để tránh những cú sốc điện nếu họ có 5$ để chi tiêu. Sau đó, các nhà nghiên cứu cho 55 người tham gia ngồi trong một căn phòng và suy nghĩ trong 15phút. Nếu họ muốn, họ cũng có thể tự mình chọn cú sốc điện cho bản thân bằng cách nhấn một nút bấm, để nhận một cảm giác choáng váng giống như một cú sốc tĩnhđiện trên mắt cá chân của họ.

Trước sự ngạc nhiên của các nhà nghiên cứu, trong số 42 người nói rằng họ sẽ trả tiền để tránh những cú sốc, hai phần ba trong số những người đàn ông đã chọn để tạo cú sốc cho mình, và một phần tư phụ nữ đã làm. Đặc biệt, có một người đã bấm nút 190 lần.

Các nhà nghiên cứu đã rất ngạc nhiên. Con người lựa chọn cảm giác khó chịu thay vì tự do suy nghĩ bất cứ điều gì họ muốn.

Mặc dù đã tìm kiếm tương đối nhiều, các nhà nghiên cứu cũng không tìm thấy một tập hợp nhỏ nào của những người cảm thấy việc tư duy một mình là hoàn toàn thoải mái. Một trong những thí nghiệm tuyển người từ 18 đến 77 tuổi từ một nhà thờ và khu chợ của nông dân. Bất kể tuổi tác, giáo dục, thu nhập, giới tính, hoặc có sử dụng điện thoại thông minh hay sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội hay không, con người về cơ bản thấy rằng việc ở một mình với bản thân không phải là rất thú vị mà là khá nhàm chán.

Điều đó đã làm sáng tỏ về các nghiên cứu về việc tự mình suy nghĩ trước đó, chẳng hạn như một nghiên cứu của Đại học Harvard vào năm 2010 cho thấy con người không hài lòng khi sự chú ý của họ đi lang thang. Có vẻ khá hợp lý để nghĩ rằng họ ít hạnh phúc vì sự phân tâm là một bất tiện.

Ông Gilbert – một đồng tác giả của bài báo, đã viết trong một e-mail là: “Chúng ta đang cố gắng để hoàn thành tờ khai thuế, nhưng tâm trí của chúng ta cứ liên tục nghĩ đến kỳ nghỉ sắp tới, và kết quả là, chúng ta đã dành toàn bộ những ngày cuối tuần để đọc lại bản kê khai 1040. Nếu đó là sự thật, thì việc để tâm trí đi lang thang đúng là một sự phiền toái khi chúng ta đang cố gắng để hoàn thành một việc gì đó, nhưng nó đúng ra phải là một niềm vui khi chúng ta không có gì khác để làm.”

Tuy nhiên, các nghiên cứu mới cho thấy sự thật lại hoàn toàn ngược lại. Vì vậy, có phải là chúng ta chỉ đùa thôi khi nói rằng chúng ta thích dành thời gian ở một mình với những suy nghĩ của mình hay không?

Tác giả Wilson muốn nghiên cứu hiện tượng này sâu hơn nữa; ông tự hỏi liệu những người thường xuyên ngồi thiền có đánh giá các kinh nghiệm theo một cách khác hay không. Tác giả Schooler cho biết nghiên cứu này cho thấy rằng cần có những biện pháp để giúp mọi người có thể thư giãn hơn khi ở một mình.

Nhưng có lẽ cũng có một thông điệp lớn hơn, về việc thường xuyên dùng các thiết bị điện tử thu hút sự chú ý tới mức nó đã gần như trở thành một chiếc tay điện tử mới của con người. Có lẽ vấn đề không phải là ở chiếc điện thoại thông minh của chúng ta; vấn đề là ở bản chất con người. Chúng ta đang ở trong một mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau với công nghệ.

Tác giả Wilson cho biết: “Tôi nghĩ rằng đây có thể là lý do tại sao, đối với nhiều người trong số chúng ta, các hoạt động bên ngoài rất hấp dẫn, ngay cả ở cấp độ chỉ là sử dụng chiếc điện thoại di động phổ biến mà rất nhiều người trong chúng ta luôn giữ bên mình. Tâm trí con người rất dễ rơi vào tình trạng muốn gắn kết với thế giới, nó sẽ chiếm lấy bất kỳ cơ hội nào để làm như vậy.”

Theo The Boston Globe

Cha mẹ “chối từ” về rối loạn lo âu và trầm cảm ở con tuổi vị thành niên

 

Một nghiên cứu mới được Yahoo Parenting và bệnh viện Silver Hill (một bệnh viện phi lợi nhuận điều trị các rối loạn nghiện và tâm thần) thực hiện tại Mỹ cho thấy rằng cha mẹ thường gặp khó khăn trong việc giải quyết những rối loạn lo âu và trầm cảm của trẻ vị thành niên. Bác sĩ Aaron Krasner tại bệnh viện Silver Hill cho biết: “Tôi cảm thấy việc chỉ khi mọi thứ rối tung lên thì cha mẹ và con gái mới quan tâm đến việc nói về những vấn đề này cũng có thể xảy ra. Vì theo một cách nào đó thì cha mẹ không muốn biết và sẽ muốn làm mọi thứ để tránh việc phải công nhận rằng con cái của họ thật sự có vấn đề.”

Gần 65% trong số hơn 3100 cha mẹ lựa chọn lo lắng việc việc con cái của họ đang chịu các rối loạn về lo âu và trầm cảm. Và gần một nửa báo cáo rằng đứa con đang ở tuổi vị thành niên của họ đã giấu kín việc chúng cảm thấy trầm cảm, lo âu hoặc cảm thấy quá sức chịu đựng. Mặc dù con số này rất lớn, nhưng thực tế lại có một sự bất hợp lý: Tại Mỹ, 18% trẻ vị thành niên được chính thức chẩn đoán mắc các rối loạn lo âu, trầm cảm hoặc tăng động kém chú ý. Trong số đó, chỉ 9% cha mẹ thừa nhận việc con của mình uống thuốc rối loạn lo âu, trầm cảm hay rối loạn tăng động giảm chú ý.

Có vẻ như việc tính toán nhầm lẫn về hành vi và cảm xúc của trẻ vị thành niên là một vấn đề quá phổ biến. Mặc dù sự thật rằng có gần hơn một phần tư cha mẹ báo cáo rằng con mình “rất hạnh phúc” và 59% cha mẹ khác báo cáo rằng con mình “khá hạnh phúc”, nhưng sự thật này khác xa so với một khải sát năm 2013 của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC) tiết lộ 30% trẻ vị thành niên họ đã khảo sát cho biết đã từng cảm thấy buồn hoặc tuyệt vọng gần như mỗi ngày trong thời gian nhiều tuần liên tiếp – và 17% đã từng nghĩ đến việc tự tử.

Krasner nói: “Có một sự bất hợp lý lớn giữa nhận thức của cha mẹ và báo cáo của chính các trẻ vị thành niên. Điều này thật khó tin.” Ông tiếp tục rằng ngoài ra, còn có định kiến về bệnh tâm thần dẫn đến việc hình thành một hàng rào cản trở sự quan tâm chăm sóc thích hợp. Ông cho biết khác với những trẻ được nhập viện với một chiếc chân gãy, các trẻ nhập viện để điều trị các bệnh lý về tâm thần không được ai gửi tặng cho hoa hay kẹo và cha mẹ chúng cảm thấy rằng họ cần giấu việc con mình đang được chữa trị y khoa.

Nhưng điều quan trọng cần chú ý là nghĩ về các bệnh lý tâm thần như một khiếm khuyết về tính cách là một ý tưởng hoàn toàn vô nghĩa. “Chúng là những vấn đề về thần kinh có phương pháp chữa trị. Điều cha mẹ cần phải làm là thúc đẩy nhẹ nhàng theo hướng trò chuyện về những vấn đề này và cho con của họ nhập viện.” Krasner cũng nói thêm trong thời đại của mạng xã hội như ngày nay, khi thường xuyên làm việc với các trẻ vị thành niên có vấn đề về sức khỏe tâm thần và các rối loạn lạm dụng chất thì ông cảm thấy kết quả khảo sát rất rõ ràng này là rất đáng báo động, và nó khẳng định sự tách biệt về thông tin và mạng xã hội giữa cha mẹ và con cái tuổi vị thành niên.

Gần hai phần ba cha mẹ trong nghiên cứu đã nói rằng con họ dùng Snapchat (một ứng dụng nhắn tin miễn phí) hoặc những ứng dụng nhắn tin tương tự, nhưng chưa đến một nửa cha mẹ báo cáo rằng họ biết mật khẩu truy cập điện thoại của con họ. Và kết quả là cha mẹ gần như “mất kết nối” với cách thức mà công nghệ ảnh hưởng lên đời sống xã hội của con cái họ và họ không giám sát con mình.

20% các cha mẹ nghĩ rằng công nghệ đã ngăn cản con cái họ hình thành những mối quan hệ thân thiết, và 15% cha mẹ khác thừa nhận rằng họ “không chắc” về điều này. Krasner nói: “Tôi không nghĩ cha mẹ nhận biết được rằng sự tương tác xã hội không còn chỉ là sự tương tác người với người trực tiếp nữa. Mạng xã hội có nghĩa là bạn luôn trong một trạng thái liên kết với người khác. Và khi bạn vẫn còn trẻ và dễ dàng bị tổn thương thì điều đó có nghĩa là những liên kết rất to lớn.”

Cha mẹ xem sự trao đổi trên mạng xã hội như Facebook như một trò giải trí, đó là nơi đăng hình ảnh và tìm hiểu những gì đang xảy ra. Những trao đổi của trẻ vị thành niên trên Snapchat và những trang khác thì ngược lại, chún là “những mối quan hệ xã hội trực tiếp, đang diễn ra và rất có tính chi phối” Số lượng yêu thích (Likes) mà một bài đăng có được tạo nên một ảnh hưởng lớn đối với lòng tự trọng của trẻ vị thành niên. Bác sĩ nói: “Có những thế giới trong những thế giới trên mạng xã hội và mạng Internet mà cha mẹ không hề biết đến.”

Một khía cạnh khác trong cuộc sống của trẻ vị thành niên mà cha mẹ vẫn còn chưa hiểu rõ khác là gì?

Đó chính là bắt nạt. Hơn 18% cha mẹ nói rằng họ “không chắc”việc con mình có bị bắt nạt hay không, nhưng hơn 50% cha mẹ báo cáo rằng họ không nghĩ rằng con mình nổi tiếng.

Cha mẹ cũng không biết nhiều về việc con mình sử dụng những chất như rượu và chất kích thích. Hơn 3/4 cha mẹ nói rằng họ nghĩ rằng con họ “không bao giờ” dùng chất kích thích hay rượu. Nhưng trong nghiên cứu của CDC, có 66% học sinh cho biết họ đã từng uống rượu ít nhất 1 ngày trong đời sống của mình và 41% học sinh đã dùng chất kích thích 1 hoặc vài lần trong đời sống của mình.

Krasner nói: “Điều này phản ánh một sự đánh giá thấp đáng báo động đối với việc trẻ vị thành niên dùng các chất kích thích, và lại mộtlần nữa nhấn mạnh việc cha mẹ cần được giáo dục về việc giaotiếp với con của mình về việc sửdụng rượu và chất kích thích, cũngnhư tìm hiểu về những dấu hiệu rõràng của việc sử dụng những chất này.”

Mặt khác, những cha mẹ trong nghiên cứu có vẻ như chủ động lảng tránh việc trò chuyện về tình dục với con cái tuổi vị thành niên của họ. Gần 31% cha mẹ chưa từng nói chuyện với con về điều này và 71% cha mẹ nói rằng trẻ em ngày nay quá cẩu thả trong tình dục. Krasner đồng ý rằng “Trẻ vị thành niên có thể dễ thay đổi, khó hiểu, và đôi khi có vẻ khó kết nối. Nhưng đó là vì chúng cảm thấy lo lắng và nhận thức được về sự thay đổi mạnh mẽ cả bên trong và xung quanh chúng. Nhưng đó lại là điều khiến chúng rất dễ tổn thương – hơn khi nào hết, trẻ em tuổi vị thành niên cần được giúp đỡ định hướng trong thế giới xã hội đang ngày càng phức tạp hơn.

Vậy có phải lời khuyên của ông là cha mẹ của những trẻ vị thành niên quan tâm về những vấn đề này không? Thật ra chỉ cần ông nói chỉ cần hãy “ở bên cạnh chúng. Hãy tìm chúng. Và liên kết với chúng.”

Theo Yahoo Parenting